Home / Sứ vụ

Sứ vụ

Xứ Tiên Lục đón quý thầy cô giáo thăm quan giáo xứ

Chúa nhật, ngày 7/1/2024 là một ngày đặc biệt tại giáo xứ Tiên Lục khi các thầy cô giáo đã từng học lớp cao học với cha xứ Đaminh Nguyễn Văn Bích tới thăm cộng đoàn giáo xứ Tiên Lục. Đây là dịp để gặp gỡ, chia sẻ giữa cộng đoàn giáo xứ và quý thầy cô giáo. Chương trình thăm giáo xứ của quý thầy cô được bắt đầu lúc 8 giờ 30 sáng Chúa nhật. Trời buổi sáng trong xanh và nắng ấm áp tạo nên không khí ấm cúng cho buổi gặp gỡ trong tình người này. Đón tiếp đoàn thầy cô có cha xứ Đaminh, thầy xứ, những người đang làm công tác giáo dục tại giáo xứ và cộng đoàn giáo xứ. Hướng dẫn đoàn, cha xứ đã giới thiệu về cuộc sống hằng ngày của những gia đình giáo dân thuộc giáo xứ Tiên Lục. Quý thầy cô đã chăm chú lắng nghe những câu chuyện buồn vui của các gia đình nơi huyện Lạng Giang, Bắc Giang và Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Đồng thời, cha cũng chia sẻ về những sinh hoạt đức tin của giáo xứ. Cụ thể, các thầy cô đã đến các lớp học giáo lý để biết về công tác giáo dục của giáo xứ. Quý thầy cô được chứng kiến những thế hệ trẻ em đang không ngừng cố gắng để trau dồi cho bản thân những đức tính và kiến thức cần phải có để vào đời. Buổi gặp gỡ trong không khí vui tươi, tràn đầy niềm tin và lòng nhân ái đã tạo một mối tương quan tốt giữa thầy cô giáo không phân biệt tôn giáo với cộng đoàn dân Chúa tại xứ Tiên Lục. Đức Đàm – TT Tiên Lục

Niềm vui tham gia

Chiều mùa đông, không khí lạnh tràn về trên những con đường làng nhỏ hẹp. Không kịp ăn tối, lũ trẻ chúng tôi khoác vội chiếc áo ấm nhanh chân chạy đến sân nhà thờ để tập văn nghệ chuẩn bị cho chương trình hoan ca Giáng Sinh. Chưa đến giờ, nhưng sân nhà thờ đã đông kín người, tiếng trẻ con gọi nhau, cười nói, nô đùa hòa với tiếng nhạc vui nhộn giúp xua tan giá lạnh giá của mùa đông. Thế đấy, mỗi khi nhớ về tuổi thơ, những kí ức gắn bó bên ngôi nhà thờ quê hương lại ùa về trong tôi. Nhớ lắm những buổi học giáo lý, học đàn được các thầy, các sơ truyền đạt thật thú vị. Nhớ mùa hoa tháng 6, cứ mỗi chiều về lại cùng các bạn rủ nhau đi hái hoa đồng nội để tối dâng hoa,…và cũng nhớ lắm cả những lần ngủ gật trong nhà thờ bị bà quản véo đỏ tai, hay những lần dại dột, đá bóng làm vỡ kính nhà thờ… mà đến nay, bí mật đó, tụi trẻ chúng tôi vẫn giữ kín. Tuy nghịch ngợm, nhưng chúng tôi vẫn được cha phó tin tưởng, trao cho những công việc mà đối với chúng tôi nó thật “vĩ đại”. Chúng tôi chia nhau đọc sách, giúp lễ, đánh đàn, quét dọn nhà thờ, kéo chuông và nấu cơm tối cùng cha xứ. Các công việc diễn ra hằng ngày nhưng ai cũng thấy vui và đặc biệt là không ai tị ai. Năm tháng qua đi, chúng tôi lớn lên, người đi học, người đi làm; những sinh hoạt đức tin do đó cũng giảm dần. Bản thân tôi cũng như bị cuốn vào vòng xoáy của công việc và những thú vui bên ngoài, từ đó không còn hăng hái với các công việc trong giáo xứ. Trong một thời gian rất dài, tôi tự cho phép mình chỉ cần tham dự thánh lễ Chúa Nhật và đóng góp mỗi khi cha xứ kêu gọi. Tôi mất dần cảm giác gắn bó với cộng đoàn, mất đi niềm vui, sự háo hức đón chờ những ngày lễ lớn. Và nghiêm trọng hơn nữa, tôi dần mất đi cảm giác thuộc về đại gia đình Giáo Hội. Trong năm phụng vụ 2024, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã lựa chọn chủ đề:  “Thúc đẩy sự tham gia đời sống Giáo Hội”. Qua đó, lòng tôi được thôi thúc và khơi lên một trách nhiệm, sự khao khát tham gia trong đời sống của Hội Thánh ngay tại giáo xứ của mình. Sự tham gia được khởi đi bằng lòng nhiệt thành, quảng đại trong các công việc của giáo xứ; nỗ lực, dấn thân trong các hoạt động bác ái và truyền giáo. Ước mong sao, bạn và tôi, chúng ta sẽ cùng nhau tiến bước trong tiến trình hiệp hành của Giáo Hội bằng việc sống “sống đức tin trong tương quan với đức ái, nhằm làm cho ơn thánh Chúa được trổ sinh rõ nét nơi mỗi hành động cụ thể trong cuộc sống thường ngày”[1]. Từ đó, mỗi người chúng ta có thể khám phá được niềm vui đích thực, là hoa trái của sự tham gia trong đời sống Giáo Hội.                                                                      Giuse D   [1] Thư định hướng mục vụ 2023 – 2024; Đức Cha Giuse Đỗ Quang Khang, GM GP Bắc Ninh

Đọc lại Đối Thoại Và Rao Giảng ba mươi năm sau: Một quan điểm Châu Mỹ

ĐỌC LẠI ĐỐI THOẠI VÀ RAO GIẢNG BA MƯƠI NĂM SAU:MỘT QUAN ĐIỂM CHÂU MỸ Rita George-Tvrtković, Ph.D[1] WHĐ (16.12.2023) - “Hội Thánh Công giáo... chân thành biểu lộ sự trân trọng đối với những phương thức hành động và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết (của các tôn giáo) khác, tuy có nhiều điểm khác với chủ trương mà Hội Thánh duy trì, nhưng cũng thường đem lại một tia sáng của Chân Lý chiếu soi cho hết mọi người. Tuy nhiên Hội Thánh rao giảng và có bổn phận phải kiên trì rao giảng Chúa Kitô” (Nostra Aetate §2). Ngay ở câu mở đầu, Văn kiện Đối Thoại và Rao Giảng (Dialogue and Proclamation, 1991 – từ đây viết tắt là D&P) đã minh nhiên nhắc đến đoạn văn trên đây của Nostra Aetate (1965). Khi làm điều này, D&P muốn khẳng định ý tưởng rằng người Công giáo phải gắn kết lại hai quan niệm có vẻ tách rời nhau: cởi mở với các tôn giáo khác và trung thành với đức tin của mình. Nhưng sự căng thẳng mà Nostra Aetate chỉ khêu gợi ra, thì D&P đã nghiêm túc đặt nó vào tâm điểm thảo luận thông qua nhan đề, chủ đề và tư cách đồng tác giả của văn kiện. Hơn nữa, D&P thảo luận tính lưỡng cực này một cách minh nhiên và sâu rộng hơn, gồm trọn ba đoạn dành để mô tả “thái độ quân bình” (gồm sự cởi mở với chân lý và niềm xác tín tôn giáo) cần phải có cho việc đối thoại liên tôn tốt đẹp[2]. Bên cạnh sự cởi mở và xác tín, Đối Thoại và Rao Giảng biểu lộ một tính lưỡng cực quan trọng khác: giáo thuyết và thực hành. Văn kiện 1991 phát triển một cách có hệ thống từ một phần tư thế kỷ trải nghiệm thực hành của Hội Thánh về đối thoại – những trải nghiệm được gợi hứng từ giáo thuyết của Nostra Aetate[3]. Và chính Nostra Aetate (NA) đã được biên soạn bởi các chuyên gia, các giám mục, và một vị giáo hoàng có nhiều kinh nghiệm thực tế và hiểu biết sâu rộng về các tôn giáo khác[4]. Chu trình này đã tiếp tục từ 1991 (có thể nói là “đối thoại” không?) với một sự tác động qua lại bền bỉ giữa các phát biểu giáo thuyết chính thức và những cuộc gặp gỡ liên tôn cụ thể. Thông điệp mới đây của Đức giáo hoàng, Fratelli Tutti (2020) diễn tả rất hay sự tác động qua lại này giữa giáo thuyết và thực hành, như là thần học gặp gỡ của nó được tạo khuôn bởi hai cuộc gặp gỡ đời thực giữa Kitô giáo và Hồi giáo: cuộc gặp giữa Thánh Phanxicô Assisi và vua Hồi giáo Al-Malik vào thế kỷ 13, và giữa Đức giáo hoàng Phanxicô và lãnh tụ Hồi giáo Al-Tayyeb năm 2019. Tóm lại, lộ trình từ Nostra Aetate đến Dialogue and Proclamation đến Fratelli Tutti và xa hơn nữa cho thấy một sự tác động qua lại giữa giáo thuyết và thực hành. Những ảnh hưởng năng động trong D&P từng gây âm hưởng mạnh nhất với người Mỹ là ảnh hưởng giữa bốn hình thức đối thoại: đời sống, hành động, trao đổi thần học, và trải nghiệm tôn giáo[5]. Mặc dù bốn hình thức này từng được giới thiệu lần đầu tiên trong một văn kiện trước đó của Vatican[6], nhưng chính sự trình bày mạch lạc và rõ ràng của D&P đã lôi cuốn trí tưởng tượng của nhiều người. Trong ba mươi năm qua, bốn hình thức này đã được dùng làm đá thử vàng chính cho đối thoại liên tôn tại Hoa Kỳ. Bốn hình thức này không chỉ được trích dẫn trong các bài báo hàn lâm và bởi những chuyên gia và tổ chức liên tôn, nhưng nhiều người Công giáo bình thường cũng nhận ra rằng họ đã có trải nghiệm bản thân về đối thoại liên tôn thông qua một trong bốn hình thức này. Bài viết này cung cấp một quan điểm Mỹ về Đối Thoại và Rao Giảng ba mươi năm sau khi nó được ban hành. Trong khi lưu tâm tới những cặp lưỡng cực cởi mở – xác tín và giáo thuyết – thực hành, bài viết sẽ xét xem các cuộc đối thoại bằng đời sống, hành động, trao đổi thần học và trải nghiệm tôn giáo đã được diễn tả như thế nào trong bối cảnh Mỹ, với sự chú ý tập trung đặc biệt vào các đại học Công giáo và các mô hình đối thoại của giới phụ nữ bình thường, vì hai thành phần này chứng tỏ rõ ràng sư giao thoa của bốn hình thức nói trên. 1. Đối thoại liên tôn tại các Đại học Công giáo Vào những năm sau khi Nostra Aetate được công bố, các giáo phận Công giáo tại Hoa Kỳ đã bổ nhiệm các quan chức đại kết hay thiết lập các văn phòng đại kết để lo các vấn đề về đại kết và đối thoại liên tôn. Các văn phòng này đã là những địa điểm quan trọng cho công việc đối thoại của Công giáo cả trong giới hàn lâm và trong giới bình dân. Tuy nhiên, trong ba thập kỷ vừa qua, các đại học Công giáo – được thúc đẩy một phần bởi [Tông hiến] Ex Corde Ecclesiae vừa ban hành một năm trước văn kiện Dialogue and Proclamation – đã xuất hiện như một đối tác sinh động cho các giáo phận trong công việc này[7]. Nhiều đại học Công giáo tham gia vào công cuộc đối thoại liên tôn đã công khai chấp nhận bốn hình thức của D&P. Một số trường thậm chí đã thiết kế toàn bộ cách tiếp cận của họ về các mối quan hệ liên tôn dựa trên một sơ đồ bốn phần, như Đại học Santa Clara ở California, mô tả hoạt động liên tôn của trường như là chịu ảnh hưởng của cả Dòng Tên sáng lập trường này và ảnh hưởng của bốn hình thức của D&P. Một ví dụ khác là Đại học Depaul tại Chicago. Trường này có tờ bướm quảng cáo về các hoạt động trong chiến dịch liên tôn nhan đề: “Bốn Con Đường Đối Thoại tại Depaul.”[8] Các trường khác có các trung tâm đặc biệt về các mối quan hệ liên tôn, như Center for Christian-Jewish Learning của Đại học Boston, Prince Alwaleed Bin Talal Center for Muslim-Christian Understanding của Đại học Georgetown, Jay Phillips Center for Interfaith Learning của Đại học St. Thomas, Institute for Interreligious Study and Dialogue của Catholic University of America: các Đại học này thường xuyên tham gia cả bốn hình thức đối thoại. Những trường này và nhiều trường khác nữa không chỉ cổ vũ các chương trình hàn lâm chuyên về đối thoại của các chuyên gia thần học, tổ chức các sự kiện nuôi dưỡng đối thoại về các trải nghiệm tôn giáo, và tài trợ các ký túc xá để các sinh viên có nơi tham gia vào đối thoại cuộc sống; nhưng các trường này cũng khá tích cực trong hình thức đối thoại bằng hành động. Trong hai thập kỷ qua, nhiều đại học Công giáo Mỹ cũng đã gia tăng sự tham dự của họ vào hình thức đối thoại bằng hành động, nhờ sự gợi hứng từ các thực thể ngoài Công giáo. Một trong những thực thể ảnh hưởng nhất trong số này tiếp tục là tổ chức Interfaith Youth Core, một tổ chức phi lợi nhuận tại Chicago đã khơi dậy hay củng cố việc đối thoại liên tôn tại các trường công lập và tư thục của Mỹ, bao gồm các trường Công giáo, với tiêu điểm là các hình thức đối thoại bằng đời sống và hành động[9]. Hình thức đối thoại bằng hành động tại các trường đại học Công giáo hôm nay đã phát triển theo những cách mà văn kiện D&P đã không hề dự kiến trước, một lần nữa chứng minh sự tương tác qua lại giữa lý thuyết và thực hành. Ví dụ, trong khi văn kiện năm 1991 thậm chí còn không hề nhắc đến từ “chủ nghĩa phân biệt chủng tộc”, thì các sinh viên đại học Công giáo Mỹ và các đối tác liên tôn của họ vào năm 2021 đang cùng nhau chống lại tình trạng gia tăng gần đây của xu hướng ghét Hồi giáo, chủ nghĩa bài Do Thái, địa vị ưu việt của người da trắng, và xu hướng ghét phụ nữ tại Hoa Kỳ. Khi làm điều này, họ đang diễn tả tốt đẹp bản chất tương quan chặt chẽ của các hình thức đối thoại được mô tả bởi D&P số 43: “Sự tiếp xúc trong đời sống thường ngày và sự dấn thân chung cho hành động sẽ thường mở cánh cửa cho sự hợp tác trong việc phát huy các giá trị nhân bản và thiêng liêng.” Hơn nữa, các đại học đã giúp mở rộng sự tham dự của người Công giáo vào đối thoại liên tôn, từ một “lãnh vực dành riêng cho các chuyên gia”, sang một nhóm người Công giáo rộng rãi hơn, bao gồm những người thuộc thế hệ thiên niên kỷ và thế hệ Z, những thế hệ này không còn coi đối thoại như là một “đồ xa xỉ trong sứ vụ của Hội Thánh,” nhưng đúng hơn, nó là một công cụ cần thiết trong bước tiến bộ của hòa bình và công lý[10]. Một khía cạnh bất ngờ khác nữa của D&P đang diễn ra hôm nay tại các đại học Công giáo Mỹ liên quan đến tiềm năng ảnh hưởng của đối thoại đối với việc rao giảng trên bình diện phương pháp và người nghe. Một trong những mục tiêu chính của văn kiện D&P là nhắc nhở những người Công giáo đang tham gia đối thoại liên tôn không được bỏ qua việc rao giảng. Nhưng khi văn kiện nói về rao giảng, văn kiện có ý hiểu về rao giảng cho những người ngoài Kitô giáo. Tuy nhiên, một nhận thức mới và sâu sắc đã xuất hiện từ các khuôn viên đại học Mỹ trong ba mươi năm qua: đó là những người dấn thân rao giảng Tin Mừng (Phúc âm hóa, theo nghĩa rộng) cho các sinh viên Công giáo phải tận dụng các kỹ năng họ đã có được trong đối thoại tôn giáo để làm đòn bẩy cho công việc này. Dù sao, khung cảnh tôn giáo tại các đại học Công giáo tại Hoa Kỳ đã thay đổi từ năm 1991, với nhiều trường báo cáo rằng số sinh viên Công giáo chiếm khoảng 50 phần trăm hay ít hơn. Số sinh viên còn lại không chỉ gồm những người theo các tôn giáo khác, nhưng số sinh viên Công giáo đã bỏ đạo hay ít hiểu biết giáo lý và cả những sinh viên “không theo đạo nào” cũng gia tăng. Trong khung cảnh này, cả việc rao giảng cho những người ngoài Kitô giáo cũng như việc “tân Phúc âm hoá” giữa những người trẻ Công giáo có thể được hưởng lợi từ thái độ đối thoại: điều này giúp cân bằng giữa sự cởi mở và niềm xác tín[11]. Tóm lại, các phương pháp rao giảng tôn giáo trong nội bộ có thể hưởng lợi từ việc thực hành đối thoại liên tôn. Một thái độ đối thoại là thiết yếu trong việc tiếp xúc với các sinh viên đại học hôm nay, vì rao giảng khó có thể được tiếp nhận nếu không được làm trong tinh thần đối thoại[12]. Những sinh viên Công giáo và những sinh viên khác trong các lớp học thuộc thế hệ thiên niên kỷ vẫn còn đang làm thần học theo câu châm ngôn nổi tiếng của Thánh Anselmô: “đức tin tìm kiếm sự hiểu biết”, nhưng đối với nhiều người, điểm xuất phát không phải là “đức tin” nhưng là “tìm kiếm”[13]. Hơn nữa, tôi có kinh nghiệm bản thân ngay tại trường đại học tôi đang giảng dạy, Đại học Benedictine ở ngoại ô Chicago, đó là đức tin của các sinh viên Công giáo đôi khi có thể được loé lên hay đào sâu nhờ đối thoại với các bạn học là các sinh viên đạo Hồi hay đạo Sikh. Đáng chú ý là việc đối thoại tôi đang nói đến ở đây không phải là bằng các cuộc thảo luận về đạo Hồi hay đạo Sikh, nhưng đúng hơn, là đọc các bản văn Công giáo chung với nhau (chẳng hạn bộ Summa của Thánh Tôma Aquinô, quyển Showings của Julian of Norwich, hay quyển Luật Dòng của Thánh Biển Đức), và bằng cách xin các bạn người Hồi hay người Sikh chỉ ra cho các bạn Công giáo những khía cạnh của các bản văn Công giáo[14]. Tình hình này cho thấy rằng việc rao giảng Tin Mừng có thể chịu ảnh hưởng bởi việc đối thoại liên tôn theo những cách mà văn kiện D&P không ngờ tới, một lần nữa chứng tỏ sự tương tác bền bỉ giữa thực hành và giáo thuyết. Có lẽ giáo thuyết Công giáo về Phúc âm hóa cần phải được ảnh hưởng một cách hữu ý bởi các phương pháp của đối thoại liên tôn chăng? Ví dụ, Văn kiện năm 2001 Go and Make Disciple của HĐGM Hoa Kỳ về Phúc âm hóa bao gồm một danh sách các chiến lược, thế nhưng cả đối thoại liên tôn hay thần học so sánh lại không hề được nhắc đến như là có liên quan gì với việc tái rao giảng Tin Mừng của người Công giáo (chỗ duy nhất nhắc đến đối thoại liên tôn thì rất vắn tắt: khuyến khích sự tôn trọng, không khuyến khích việc cải đạo)[15]. Trong khi Dialogue and Proclamation số 77 nhấn mạnh cả đối thoại và rao giảng, ngôn từ của “đối thoại” vẫn chưa được tích hợp thực sự tốt vào các cố gắng Phúc âm hóa. Tuy nhiên, tính đa nguyên liên tôn đang trở thành chính bối cảnh cho các nỗ lực Phúc âm hóa giữa những người Công giáo Mỹ, như đã là như thế rồi tại Châu Á trong nhiều thập kỷ[16]. Sự tương tác giữa lý thuyết và thực hành có tiềm năng tạo ra những nhận thức mới, không chỉ cho việc đối thoại liên tôn, mà cũng cho việc rao giảng nữa. 2. Đối thoại liên tôn trong các nhóm đối thoại phụ nữ bình thường Tại Mỹ, các nhóm liên tôn phụ nữ là một khung cảnh thuận lợi biểu lộ sự giao thoa giữa bốn hình thức đối thoại nói trên. Các nhóm này đã tăng số theo cấp lũy thừa trong ba mươi năm qua, cho thấy sự tham gia sâu nhưng thường bị quên lãng của các phụ nữ Công giáo là các giáo dân, các nữ tu, và các phong trào giáo hội trong đối thoại liên tôn ở cấp cơ sở. Một số nhóm đối thoại của phụ nữ tại Hoa Kỳ đã được khởi xướng thông qua các tổ chức tôn giáo truyền thống. Chẳng hạn, một cuộc đối thoại giữa các phụ nữ Công giáo tại Nhà thờ Thánh Fabianô và các phụ nữ Hồi giáo tại Nhà thờ (Hồi giáo) Foundation ở Bridgeview, Illinois, hội họp với nhau hằng tháng từ năm 1997, được khởi xướng bởi một nữ thành viên của nhà thờ Hồi giáo này, bà đã đến gặp cha xứ của Nhà thờ Thánh Fabianô bên cạnh để xin giúp tổ chức một cuộc đối thoại giữa các phụ nữ. Nhóm này, được điều hành một cách độc lập bởi các thành viên nữ của nhóm, tham gia trong tất cả bốn hình thức đối thoại. Các cuộc gặp gỡ hằng tháng của họ, thường được tổ chức trong các giờ uống trà buổi trưa hay các bữa ăn đồ nướng ngoài sân, là bản chất của đối thoại đời sống: họ bàn luận các vấn đề của gia đình và địa phương họ như trường học, chính trị, và tội phạm. Họ dự các đám tang, đám cưới, và các sự kiện đặc biệt khác để biểu lộ sự ủng hộ đối với các bạn bè liên tôn của họ. Các phụ nữ cũng có một lập trường đối với công bằng xã hội, ví dụ nói công khai chống lại phong trào ghét phụ nữ sau ngày 11 tháng 9. Đối thoại của nhóm phụ nữ Thánh Fabianô-Nhà thờ Hồi giáo Foundation cũng tổ chức một bữa tiệc liên tôn hằng năm, người Hồi giáo gọi là iftar, cho các gia đình của địa phương, có thể được coi là một đối thoại trải nghiệm tôn giáo. Các nhóm đối thoại liên tôn khác của các phụ nữ tại Hoa Kỳ đã được tổ chức bởi các phong trào giáo hội Công giáo. Ví dụ các cộng đoàn phụ nữ Focolare sống tại Milwaukee, New York, và Chicago vẫn đang đứng ra bảo trợ các cuộc đối thoại với các phụ nữ của nhóm Imam W. D. Muhammad Society (IWDM, một nhóm người Hồi giáo Mỹ gốc Phi) từ những năm 1990. Các cuộc đối thoại liên tôn Focolare – IWDM biểu lộ sự giao thoa không chỉ trong bốn hình thức đối thoại, nhưng cũng bằng việc cổ vũ đối thoại liên tôn và liên sắc tộc. Trên thực tế, các phụ nữ Focolare ở Chicago đã thực hành đối thoại đời sống từ ít là hai thập kỷ trước khi văn kiện Đối Thoại và Rao Giảng (D&P) mô tả hình thức đối thoại này vào năm 1991. Các chị Focolare lần đầu tiên mở nhà của họ ở khu vực Hyde Park phía nam của Chicago vào những năm 1960, là thời kỳ những người da trắng rời bỏ khu vực phía nam và chạy về những vùng ngoại ô, tất cả vì sợ những người da đen đang đổ về đó. Thoạt đầu, một số thành viên da trắng của nhóm Focolare nói họ sẽ tránh đến thăm ngôi nhà mới của họ tại Hyde Park, trong khi những người da đen thì ngờ vực những người hàng xóm mới của mình. Nhưng dần dần, các chị em Focolare đã xây dựng được những mối quan hệ bằng đời sống, vượt qua cả những chia rẽ sắc tộc và tôn giáo, và nhấn mạnh về gia đình và trẻ em; ví dụ, họ nổi tiếng vì tổ chức các lễ hội đại kết mừng lễ Chúa Giáng Sinh hằng năm, một lễ hội mà các trẻ em địa phương rất thích thú[17]. Cho tới hôm nay, Nhóm Focolare Mỹ vẫn duy trì đối thoại với những người hàng xóm da đen của họ, cả Hồi giáo và Công giáo, không chỉ ở Chicago, mà còn ở những nơi khác trên khắp nước Mỹ, bao gồm Atlanta, Pittsburgh, và Detroit. Một phụ nữ da đen Mỹ gốc Phi tóm tắt mối quan hệ của cộng đồng bà với Nhóm Focolare như sau: “Các chị Focolare đã giúp tôi không còn nhìn thấy màu da trước khi tôi nhìn thấy tính tình. Chúng tôi đã trở nên quá gần gũi với các chị của Nhà Focolare tại Hyde Park đến nỗi tôi đã nói với các con tôi, ‘Nếu mẹ hay gia đình không ở quanh các con và các con có cần gì, cứ chạy đến Nhà Focolare. Đó cũng là gia đình chúng ta đấy.’”[18] Các nhóm phụ nữ đối thoại liên tôn khác tại Hoa Kỳ được tài trợ bởi các cộng đoàn nữ tu, chẳng hạn như “Các Nữ Tu Phương Tây”, họ đã tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ giữa các ni cô Phật giáo và các nữ tu dòng Biển Đức tại Hacienda Heights, California, và Rock Island, Illinois. Tập trung vào các cuộc đối thoại về các trải nghiệm tôn giáo và các trao đổi thần học, các nữ tu này đã thảo luận về chiêm niệm, kỷ luật nội tâm, cộng đoàn, và quyền bính. Một ví dụ khác về nhóm đối thoại cơ sở của Mỹ gồm những nữ tu Công giáo là nhóm “Các Nữ Tu và Những Người Không Đạo”, một tổ chức phi lợi nhuận được điều hành hợp tác bởi các nữ tu Công giáo và dân thường thuộc các tôn giáo khác nhau. Liên minh này tập hợp các nữ tu Công giáo (gồm các chị Dòng Đaminh, Dòng Biển Đức, và các chị Tu Hội Lòng Chúa Thương Xót) và những người dân thường với các quan điểm tâm linh khác nhau (gồm “những người không đạo” và những người Do Thái) để tập trung vào các hình thức đối thoại đời sống, đối thoại hành động và trải nghiệm tôn giáo. Sứ mạng tự nhận của tổ chức này là “tạo ra những cộng đồng chăm sóc và chiêm niệm có khả năng kích thích hành động can đảm”, và họ đã giúp những người thuộc thế hệ thiên niên kỷ tìm thấy được những người bạn tâm hồn đáng ngạc nhiên nơi các chị nữ tu Công giáo. Kết luận Năm 1991, Đối Thoại & Rao Giảng (D&P) đã gợi ý về tương lai của nước Mỹ khi đề nghị rằng nhiều người trẻ hơn cần phải được đào tạo về đối thoại trong một bối cảnh đa nguyên: “Dựa trên cơ sở những kết quả của các nghiên cứu này, các học viện cũng phải tổ chức những khóa học và nghiên cứu đặc biệt để đào tạo những con người cho cả Đối Thoại & Rao Giảng. Cần phải đặc biệt chú ý đến những người trẻ sống trong môi trường đa nguyên, họ gặp gỡ những tín đồ của các tôn giáo khác tại trường học, nơi làm việc, trong các phong trào giới trẻ và các hiệp hội khác và thậm chí ngay trong các gia đình của chính họ.”[19] Trên thực tế, tính đa nguyên tôn giáo đã trở thành bối cảnh cho cả việc đối thoại liên tôn lẫn việc rao giảng tại nước Mỹ của thế kỷ 21, và giới trẻ là chìa khóa cho cả hai công việc này. Và vì thế, các đại học và các nhóm phụ nữ liên tôn sẽ tiếp tục là những nơi đặc biệt quan trọng để người Công giáo học cách sống sứ vụ kép của họ là đối thoại và rao giảng. Các ví dụ của bài này về cách mà Văn kiện D&P đã được đón nhận như thế nào tại Mỹ cho thấy cái động năng phức tạp đang tác động trong đối thoại liên tôn: giữa sự cởi mở và sự xác tín, giữa giáo thuyết và thực hành, và giữa bốn hình thức của đối thoại. Tại Mỹ, chắc chắn một trong những di sản lâu dài nhất của D&P là sự mô tả mạch lạc của nó về bốn hình thức đối thoại. Lý do là vì bốn hình thức này, trong tính chất đơn giản, dễ tiếp cận và hữu ích, đã giúp cho các tầng lớp đông đảo người Công giáo – từ các linh mục, các học giả và các sinh viên, cho tới các phụ nữ, các nữ tu và các gia đình – đáp lại lời kêu gọi ngàn đời của Hội Thánh về đối thoại, như được dạy trong Tuyên Ngôn Nostra Aetate số 2 (“Vì thế, Giáo hội khuyến khích con cái mình… đối thoại và hợp tác với tín đồ của các tôn giáo khác…”), trong Văn kiện Đối Thoại & Rao Giảng số 43 (“Tất cả các giáo hội địa phương, và tất cả các thành viên của các giáo hội này, được mời gọi đối thoại, dù không phải theo cùng một cách như nhau”), trong Thông điệp Fratelli Tutti số 217 (“Chúng ta hãy trang bị cho con cháu chúng ta những vũ khí của đối thoại!”), và trong nhiều văn kiện khác nữa. Chuyển ngữ: Lm Đaminh Ngô Quang TuyênTừ: Tập san Pro Dialogo số 167 (LVI) 01/2021 của Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại Liên tôn, link tại dimmid.org Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 136 (Tháng 7 & 8 năm 2023)     [1] Cố vấn, Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại Liên tôn. [2] Dialogue and Proclamation, 47-49. [3] Các nhà thiết kế văn kiện D&P gồm có các nhà thực hành như Jacques Dupuis, một linh mục Dòng Tên sống nhiều thập kỷ tại Ấn Độ và tham gia vào tiến trình đối thoại Ấn giáo–Kitô giáo. Xem Michael Fitzgerald, “Dialogue and Proclamation: A Reading in the Perspective of Christian-Muslim Relations,” trong In Many and Diverse Ways, ed. Daniel Kendall and Gerald O’Collins (Orbis, 2003), tr. 181-193, ở tr. 181. [4] Ví dụ, hai trong số các chuyên gia viết Nostra Aetate, Georges Anawati, OP, và Robert Caspar, M. Afr., là những nhà nghiên cứu về Hồi giáo từng có kinh nghiệm sống rất sâu rộng trong thế giới Hồi giáo; Anawati sinh tại Ai Cập và Caspar đã sống lâu năm tại Bắc Phi. Trước khi trở thành Giáo hoàng Phaolô VI, Hồng y Giovanni Montini từng tham gia trong nhóm đối thoại Hồi giáo Kitô giáo, gọi là Phong trào Cầu nguyện Badaliya, của Louis Massignon. Để biết thêm về Anawati, xem Wilhelmus Valkenberg, Abuna Anawati: A Catholic Theology of Islam (Catholic University of America Press, sắp phát hành). Để biết thêm về Massignon, xem Christian Krokus, The Theology of Louis Massignon: Islam, Christ, and the Church (Catholic University of America Press, 2017). [5] Dialogue and Proclamation, 42. [6] Văn kiện năm 1984 của Văn Phòng về những người ngoài-Kitô giáo nhan đề Thái độ của Hội Thánh đối với các tín đồ của các tôn giáo khác: Các Suy tư và Đường hướng về Đối thoại và Sứ vụ [7] J. Michael Miller, “Catholic Universities and Interreligious Dialogue,” America, 20-6-2005. Đối thoại liên tôn được nhắc đến một cách minh nhiên trong Ex corde ecclesiae, 47. [8] Về trường Santa Clara, xem: https://www.scu.edu/mcae/world-affairs/ religion/interfaith.cfm.html‘s. Về trường Depaul, xem: https://offices.depaul.edu/mission-ministry/religious-spiritual-life/religious/Documents/Four%20ways%20of%20dialogue.pdf [9] Nhà sáng lập Interfaith Youth Core (IFYC) là Eboo Patel, người Hồi giáo, nói rằng các quan điểm của ông về hoạt động công lý liên tôn đã chịu ảnh hưởng bởi những người Kitô giáo như Dorothy Day và Martin Luther King, Jr. [10] Dialogue and Proclamation, 43. [11] Dialogue and Proclamation, 47. [12] David Hollenbach, “Dialogue and Proclamation in Catholic Universities,” 153-2018, La Civiltà Cattolica, tr. 63. [13] Jeannine Hill Fletcher, “Among the Nones: Questing for God in the TwentyFirst Classroom,” trong Comparative Theology in the Millennial Classroom, ed. Mara Brecht and Reid B. Locklin (Routledge, 2016), tr. 141-152, ở tr. 143. [14] Rita George-Tvrtković, “What Muslims Can Teach Catholics about Christianity,” in Comparative Theology in the Millennial Classroom, pp. 153164, at p. 160. [15] Go and Make Disciple, 43-44. [16] The Federation of Asian Bishops Conferences has repeatedly stressed Asia’s “triple dialogue” context (dialogues with the poor, cultures, and religions), for example in its 2012 FABC paper #138, “FABC at 40 Years: Responding to the Challenges of Asia. Liên Hội Đồng Giám Mục Châu Á (FABC) đã nhiều lần nhấn mạnh bối cảnh “đối thoại ba chiều” của Châu Á (đối thoại với người nghèo, với các nền văn hóa, và với các tôn giáo), chẳng hạn trong tài liệu năm 2012 của FABC bài #138, “FABC at 40 Years: Responding to the Challenges of Asia.”. [17] Nori Henk, “The Practice and Meaning of Communitarian Spirituality in the Focolare Movement,” (Loyola University Chicago PhD Dissertation, 2010), tr. 70. [18] Theo lời thuật lại của Tariq Najee-Ullah trong “Evaluating the Impact of Interfaith Dialogue between the Muslim American Society and the Catholic Church especially through the Focolare Movement,” (Georgetown University Master’s Thesis, 2017), tr. 93. [19] Dialogue and Proclamation, 88.

“Người thân cận” trên mạng xã hội

  “NGƯỜI THÂN CẬN” TRÊN MẠNG XÃ HỘI Xuân Giang WGPBC (14.12.2023) - Trong Sứ điệp cho Ngày Thế giới Truyền thông xã hội lần thứ 45 (năm 2011), Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI nhận định: “Các công nghệ mới cho phép người ta gặp nhau vượt qua giới hạn không gian và nền văn hoá của riêng mình, tạo ra một thế giới tình bạn tiềm tàng hoàn toàn mới mẻ. Đây là một cơ hội to lớn, nhưng nó cũng đòi hỏi phải lưu tâm nhiều hơn và ý thức về những nguy cơ có thể có”. Cũng giống như các phương tiện truyền thông hiện đại khác, mạng xã hội vừa là một ân huệ nhưng cũng vừa là một nguy cơ, đòi hỏi người tín hữu khi sử dụng phải có sự phân định và lựa chọn. Giáo hội không ngừng củng cố hình ảnh của mạng xã hội như là những “không gian”[1], chứ không chỉ là công cụ và kêu gọi việc loan báo Tin Mừng cả trong môi trường kỹ thuật số (SM 3). Còn hơn là một phương tiện, mạng xã hội là một môi trường trong đó người ta tương tác, chia sẻ kinh nghiệm và vun đắp các mối quan hệ chưa từng có trước đây. Nói cách khác, mạng xã hội trở thành một “lãnh thổ truyền giáo mới”[2] không thể bỏ qua. Tuy nhiên, vấn đề đang đặt ra là: “Dạng nhân văn nào được thể hiện khi chúng ta hiện diện trong các môi trường kỹ thuật số? Được bao nhiêu trong các mối quan hệ kỹ thuật số của chúng ta mang lại hoa trái giao tiếp sâu sắc và chân thực, và có bao nhiêu mối quan hệ chỉ đơn thuần được định hình bởi những quan điểm tiên thiên và những phản ứng cuồng nhiệt? Bao nhiêu phần trong đức tin của chúng ta tìm được cách diễn tả kỹ thuật số sống động và mới mẻ?” (SM 5). Những câu hỏi này liên quan mật thiết đến việc xác định “người thân cận” trên mạng xã hội. Câu hỏi của nhà thông luật trong Tin Mừng Luca (x. Lc 10,29) được lặp lại một cách hiện sinh: Ai là “người thân cận” của tôi trong thế giới mới này? Chắc hẳn, dụ ngôn người Samari nhân hậu (x. Lc 10,30-35) mà Đức Giêsu đưa ra vẫn soi sáng cho câu trả lời. Ngoài ra, Sứ điệp của các Đức Giáo hoàng cho Ngày Thế giới Truyền thông xã hội, cũng như các văn kiện gần đây của Huấn quyền, đặc biệt là Thông điệp về Tình huynh đệ và Tình bằng hữu xã hội của Đức Thánh cha Phanxicô[3] và Tài liệu Hướng tới một sự hiện diện tròn đầy: Suy tư Mục vụ về việc tham gia Mạng xã hội của Bộ Truyền thông Toà Thánh[4] cũng giúp minh giải cho vấn đề đặt ra. 1. Ai là “người thân cận” của tôi trên mạng xã hội? Trên mạng xã hội, “thân cận” là một khái niệm phức tạp. “Người thân cận” trên mạng xã hội rõ ràng nhất là những người mà chúng ta duy trì kết nối. Đồng thời những “người thân cận” của chúng ta cũng thường là những người mà chúng ta không thể nhìn thấy, vì các nền tảng ngăn chúng ta nhìn thấy họ hoặc đơn giản là vì họ không có ở đó. Ngoài ra, “vùng thân cận trực tuyến” cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả những tổ chức lập trình và điều hành các nền tảng mạng xã hội (SM 42). Nhưng một cách rất tự nhiên, chúng ta có xu hướng giới hạn “người thân cận” trong số những người cùng nhóm với mình (về quan hệ họ hàng, công việc, quan điểm, tính tình, sở thích...) và ủng hộ mình, hay thậm chí là chỉ những người có lợi cho mình. Vì vậy, khi tham gia mạng xã hội, chúng ta được mời gọi vượt ra khỏi ốc đảo của mình, thoát ra khỏi nhóm “tương đồng” của mình để gặp gỡ những người khác. Tất nhiên, việc tiếp đón “người khác”, người có quan điểm trái ngược với mình hay một người dường như “khác biệt”, thì chắc chắn không phải dễ dàng (SM 20). Chúng ta được mời gọi nhìn thấy giá trị và phẩm giá của những người khác biệt so với mình. Chúng ta cũng được mời gọi nhìn vượt ra khỏi hệ thống an toàn của mình, khỏi căn hầm của mình, khỏi bong bóng của mình (SM 29). Điều này đòi hỏi mỗi người phải biết tôn trọng quan điểm cũng như thanh danh của người khác; tránh mọi hình thức lợi dụng, miệt thị, bạo lực, gây hận thù...; nhằm kiến tạo sự hiệp nhất và hiệp thông[5]. Bằng không, “không gian mạng khiến mắt chúng ta trở thành mù trước tình trạng dễ tổn thương của người khác”[6]. Mặc dù có bối cảnh rất khác, nhưng dụ ngôn người Samari nhận hậu vẫn truyền cảm hứng cho những mối quan hệ trên mạng xã hội, vì nó minh hoạ khả năng của một cuộc gặp gỡ có ý nghĩa thâm sâu giữa hai người hoàn toàn xa lạ. Người Samari phá vỡ “sự chia rẽ xã hội”: anh ta vượt lên trên ranh giới của sự đồng ý và bất đồng. Người lữ khách Samari nhìn thấy nạn nhân, lắng nghe câu chuyện của nạn nhân và chạnh lòng thương, nghĩa là cảm thấy người khác là một phần của mình (x. SM 27). Nói đúng hơn, người Samari nhân hậu trong dụ ngôn không nhìn nạn nhân bị đánh như một “người khác”, mà đơn giản là một người cần được cứu giúp (SM 26). Vì thế, mạng xã hội cần là nơi giúp các cá nhân và cộng đồng đang chịu thiệt thòi giảm bớt được cảm giác bị gạt ra ngoài lề xã hội. Cảm nhận được nối kết với nhau do các nền tảng mạng xã hội tạo ra đã cho phép họ chia sẻ, thảo luận và tìm kiếm thông tin về các vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống của họ[7]. Quả thật, nhận ra “người thân cận” kỹ thuật số của chúng ta, chính là nhận ra rằng cuộc sống của mọi người liên quan đến chúng ta, cho dù sự hiện diện (hay vắng mặt) của họ được truyền đạt gián tiếp bởi các phương tiện kỹ thuật số (SM 43). Nhìn nhận ai là “người thân cận” phần nhiều sẽ quyết định cung cách hiện diện và tương tác của chúng ta trên mạng xã hội. Và rằng, chúng ta không được phân loại người khác để quyết định ai là và ai không phải là “người thân cận” của mình (SM 55). Rất nhiều “người thân cận” trên mạng xã hội tưởng chừng như không liên quan gì đến cuộc đời của chúng ta. Không phải vì họ đáng yêu nên mới được yêu nhưng khi đã yêu thì sẽ trở nên đáng yêu. 2. Trở nên “người thân cận” của người khác trên mạng xã hội Trong Tin Mừng, Đức Giêsu đã hoàn toàn chuyển hoá cách tiếp cận: Ngài không mời gọi chúng ta đặt câu hỏi ai là người thân cận của chúng ta, nhưng mời gọi chúng ta trở thành người gần gũi, “người thân cận” của mọi người (FT 80). Điều Ngài đề nghị là hãy hiện diện bên cạnh người khác đang cần trợ giúp, không bận tâm thắc mắc người ấy có cùng nhóm với ta hay không. Do đó, tôi không còn nói rằng tôi có những “người thân cận” phải giúp đỡ, nhưng đúng hơn phải nói rằng tôi cảm thấy được kêu gọi trở nên “người thân cận” với những người khác (FT 81). Giáo hội không ngừng mời gọi các tín hữu trở nên “người thân cận” cho những người khác (SGL 1825; 1932). Ngay cả trên mạng xã hội, “chúng ta phải quyết định chọn làm người Samari tốt lành hoặc làm người bộ hành dửng dưng ngoảnh mặt bỏ đi” (FT 69; SM 52). Trở nên “người thân cận” trên mạng xã hội có nghĩa là hiện diện với câu chuyện của người khác, nhất là những ai đang đau khổ (SM 43). “Thế giới kỹ thuật số có thể là nơi đầy tình người, không phải là một mạng lưới dây nhợ, nhưng là một mạng lưới những con người”[8], nếu chúng ta nhớ rằng ở phía bên kia màn hình không phải là “những con số” hay chỉ là “tập hợp của những cá nhân”, mà là những con người có những câu chuyện, những giấc mơ, những kỳ vọng, những đau khổ. Những con người có tên gọi và có khuôn mặt (SM 47). Thật thế, “người thân cận” không phải là một “cá thể” nào đó giữa tập thể nhân loại, nhưng là “một ai đó”, có nguồn gốc rõ ràng, đáng được mọi người quan tâm và tôn trọng (SGL 2212). Mỗi người phải coi “người thân cận”, không trừ một ai, như “cái tôi thứ hai của mình”, nên trước hết phải quan tâm đến sự sống của họ và những phương tiện cần thiết giúp họ sống xứng với nhân phẩm (SGL 1931). “Sự thân cận trong thế giới kỹ thuật số” có thể được thực hiện qua việc thúc đẩy cảm thức cộng đồng và hình thành các cộng đồng chăm sóc. Nó không chỉ dừng lại ở việc chia sẻ nội dung và sở thích cho nhau nhưng còn phải cùng nhau hành động và trở thành chứng nhân cho sự hiệp thông. Muốn thúc đẩy cảm thức cộng đồng thì cần quan tâm chia sẻ với nhau: các giá trị, kinh nghiệm, hy vọng, nỗi buồn, niềm vui, hài hước và cả những truyện cười, mà tự thân chúng có thể trở thành điểm quy tụ người ta trong không gian kỹ thuật số (SM 51). Điều này chúng ta có thể học hỏi nơi vị thánh trẻ Carlo Acutis. Cùng với đó là việc hình thành các cộng đồng chăm sóc trong bối cảnh kỹ thuật số, như những nhóm được quy tụ để hỗ trợ người khác trong hoàn cảnh ốm đau, mất mát, đau buồn, cũng như những nhóm huy động sự đóng góp từ cộng đồng cho người gặp khó khăn, và những nhóm cung cấp sự hỗ trợ tâm lý và xã hội giữa các thành viên (SM 57). Các mạng lưới cộng đồng cầu nguyện trực tuyến trong thời gian đại dịch Covid-19 cũng đáng được nêu tới. Trở nên “người thân cận” với người khác cũng đồng nghĩa với việc diễn tả một phong cách Kitô giáo hiện diện trong thế giới kỹ thuật số, tức là mang hình thức của một sự truyền thông trung thực và cởi mở, có trách nhiệm và tôn trọng người khác[9]. Bên cạnh việc tiếp cận người khác với nội dung tôn giáo thú vị, các Kitô hữu cần mang dấu ấn chứng nhân trong tất cả lời nói và hành động (SM 77). Chi tiết những tín đồ tôn giáo, và hơn thế, những chức sắc tôn giáo quay mặt bỏ đi trong dụ ngôn người Samari nhân hậu cảnh báo mạnh mẽ rằng: “Việc tin vào Thiên Chúa và tôn thờ Ngài không bảo đảm cho việc sống theo ý muốn của Ngài” (FT 74). Là một “chức sắc trong đạo” hoặc tự nhận mình là môn đệ của Chúa Giêsu, thì không có gì bảo đảm rằng họ sẽ giúp đỡ hoặc tìm kiếm sự chữa lành và sự hoà giải (SM 49). Trở nên những chứng nhân đáng tin cậy của Tin Mừng tức là đang thể hiện sự hiệp thông trên mạng xã hội để xác định căn tính đức tin của mình. 3. Từ “người thân cận” trên mạng xã hội đến “người thân cận” trong đời thực Ngày nay, chúng ta có thời cơ thuận tiện để chứng tỏ rằng tự bản chất chúng ta là anh chị em với nhau, để trở thành những người Samari tốt lành nhận về mình nỗi đau của người khác, thay vì kích động hận thù và oán giận (FT 77; SM 53). Bởi lẽ, không gian mạng cho chúng ta một phương cách mới để giúp ta trở nên “người thân cận” thật sự, có thể truyền thông tình yêu và tình láng giềng, với những người ở rất xa[10]. Tuy nhiên, một nguy cơ rất dễ thấy nơi những người sử dụng mạng xã hội là việc trở nên rất “gần những người ở xa: nhưng lại rất “xa những người ở gần” (có khi ngay trong gia đình, cộng đoàn, làng xóm). Việc tương tác, lắng nghe và giúp đỡ “người thân cận” trên mạng xã hội cần đi liền với việc tiếp xúc, gặp gỡ và nâng đỡ “người thân cận” trong đời thực. Không thể coi là đúng đắn nếu quá hào hứng với những tương quan trên mạng xã hội mà thờ ơ với những liên hệ thực tế. Sẽ thật thiếu sót nếu quá mải mê với thế giới ảo mà bỏ bê thế giới thực. “Người thân cận” trên mạng xã hội đáng được chúng ta coi trọng nhưng “người thân cận” trong đời thường thì chúng ta cũng không thể bỏ qua. Những mối liên hệ cộng đồng trên mạng xã hội cần phải củng cố các cộng đồng địa phương và ngược lại. Thế giới ảo có thể hướng chúng ta về đời thực, nhưng không thể thay thế đời thực. Quả thật, việc sử dụng mạng xã hội là bổ trợ cho những cuộc gặp gỡ bằng xương bằng thịt (x. SM 47). Sau khi những kiến thức được phổ biến rộng rãi trên Internet, việc trao đổi gặp gỡ nhau trên mạng xã hội phải dẫn đến những cuộc gặp gỡ trực tiếp; lúc đó các tín hữu mới có thể trở nên chứng nhân Tin Mừng đích thực[11]. Hơn nữa, Giáo hội dạy rằng: Không có bí tích trên Internet, và thậm chí kinh nghiệm tôn giáo bởi hồng ân của Chúa có thể nhận được trên Internet cũng không đủ, nếu không có sự tương tác thực sự ngoài đời với người khác trong đức tin[12]. Truyền thông chỉ trở nên đúng nghĩa và tròn vai khi “truyền thông phục vụ một nền văn hoá gặp gỡ đích thực”[13], ở đó có một sự gắn kết chặt chẽ “từ các cộng đồng mạng xã hội đến cộng đoàn nhân loại”[14]. Bộ Truyền thông Toà Thánh cũng khẳng định: Là những tín hữu, chúng ta được kêu gọi trở thành những nhà truyền thông, là những người muốn hướng tới sự gặp gỡ. Bằng cách này, chúng ta có thể tìm kiếm những cuộc gặp gỡ có ý nghĩa và lâu bền, chứ không chỉ hời hợt và phù du. Thật vậy, khi định hướng các kết nối kỹ thuật số hướng tới gặp gỡ những con người thực, hình thành các mối quan hệ thực và xây dựng các cộng đồng thực, đó là chúng ta đang thực sự nuôi dưỡng mối quan hệ của mình với Thiên Chúa. Nghĩa là, mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa cũng phải được nuôi dưỡng qua việc cầu nguyện và đời sống bí tích của Giáo hội, những điều mà tự yếu tính của chúng không bao giờ có thể bị thu gọn vào lĩnh vực “kỹ thuật số” (SM 24). Có thể nói, vấn đề đối với các Kitô hữu ngày nay không còn là có nên tham gia vào thế giới kỹ thuật số (cách riêng là mạng xã hội) hay không, mà là tham gia như thế nào (SM 2). Việc nhận ra “người thân cận” của mình và thao thức trở nên “người thân cận” của người khác trên mạng xã hội sẽ giúp mỗi tín hữu thực thi sứ mạng Phúc Âm hoá trong môi trường đặc biệt này. Điều này khuyến khích cả cá nhân lẫn các cộng đoàn có một cách tiếp cận đầy tính sáng tạo và xây dựng, vốn có thể củng cố một nền văn hoá tương thân tương ái (SM 5). Nhờ đó, trong tư cách cá nhân và trong tư cách cộng đoàn Giáo hội, chúng ta có thể sống trong thế giới kỹ thuật số như “những người thân cận đầy yêu thương”, những người thực sự hiện diện và quan tâm đến nhau trong hành trình cùng đi trên “xa lộ kỹ thuật số” (SM 1). Nguồn: gpbuichu.org (14.12.2023) Chữ viết tắt: SGL: Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo năm 1992. FT: Thông điệp Fratelli Tutti (03/10/2020) của Đức Giáo hoàng Phanxicô. SM: Tài liệu Hướng tới sự hiện diện tròn đầy: Suy tư Mục vụ về việc tham gia Mạng xã hội (28/5/2023) của Bộ Truyền thông Toà Thánh.     [1] x. BÊNÊĐICTÔ XVI, Sứ điệp cho Ngày Thế giới Truyền thông xã hội lần thứ 47 (năm 2013). [2] x. Sứ điệp của Đức Thánh cha nhân Ngày Thế giới Truyền thông xã hội, theo WHĐ (20/5/2023): https://www.hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-cua-duc-thanh-cha-nhan-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-50817 [3] PHANXICÔ, Thông điệp Fratelli Tutti (03/10/2020), Nhóm Dịch thuật HĐGMVN chuyển ngữ, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2021. [4] BỘ TRUYỀN THÔNG TOÀ THÁNH, Tài liệu Hướng tới một sự hiện diện tròn đầy: Suy tư Mục vụ về việc tham gia Mạng xã hội (28/5/2023), bản dịch của Uỷ ban Truyền thông xã hội / HĐGMVN, theo: https://www.vatican.va/roman_curia/dpc/documents/20230528_dpc-verso-piena-presenza_vi.html [5] x. GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Pastores Dabo Vobis (25/3/1992), số 43: “Nhân loại càng ngày càng nhạy cảm đối với sự hiệp thông: ngày nay hiệp thông là một trong những dấu chỉ hùng hồn nhất và là một trong những đường lối hữu hiệu nhất của sứ điệp Tin Mừng”. [6] PHANXICÔ, Tông huấn Christus Vivit (25/3/2019), số 90. [7] x. LÊ ĐỨC, “Vai trò của mạng xã hội trong cuộc sống của di dân lao động trẻ Việt Nam ở Thái Lan”, trong Bản tin Hiệp thông của HĐGMVN, số 125 (tháng 7 & 8 năm 2021): Giới trẻ và Mạng xã hội, tr. 129. [8] x. PHANXICÔ, Sứ điệp cho Ngày Thế giới Truyền thông xã hội lần thứ 48 (năm 2014). [9] x. BÊNÊĐICTÔ XVI, Sứ điệp cho Ngày Thế giới Truyền thông xã hội lần thứ 45 (năm 2011). [10] x. PHANXICÔ, Sứ điệp cho Ngày Thế giới Truyền thông xã hội lần thứ 50 (năm 2016). [11] x. PHANXICÔ, Sứ điệp cho Ngày Thế giới Truyền thông xã hội lần thứ 55 (năm 2021). [12] x. HỘI ĐỒNG GIÁO HOÀNG VỀ TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI, Giáo hội và Internet (22/02/2002), số 9. [13] x. PHANXICÔ, Sứ điệp cho Ngày Thế giới Truyền thông xã hội lần thứ 48 (năm 2014). [14] x. PHANXICÔ, Sứ điệp cho Ngày Thế giới Truyền thông xã hội lần thứ 53 (năm 2019).

Phỏng vấn cha Paolo Benanti, thành viên Uỷ ban Liên Hiệp Quốc về Trí tuệ nhân tạo

PHỎNG VẤN CHA PAOLO BENANTI,THÀNH VIÊN UỶ BAN LIÊN HIỆP QUỐC VỀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO Vatican News Vatican News (14.12.2023) - Trong cuộc phỏng vấn của Vatican News, cha Paolo Benanti, thần học gia, triết gia dòng Phanxicô, thành viên Uỷ ban Liên Hiệp Quốc về Trí tuệ nhân tạo nói về khả năng phát triển của “các máy móc thông minh”, và cho rằng Giáo hội có thể đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy nhân bản hoá các công nghệ mới để phục vụ công ích. Ngày nay, trong những cuộc thảo luận người ta hay nói “Trí tuệ nhân tạo sẽ xử lý việc đó”. Thưa cha, có phải chúng ta đang đứng trước một thực tế mà một số người cho rằng sẽ có tác động đến phần lớn nhân loại so với Cách mạng công nghiệp không? Thực tế có một sự lạm phát nào đó đối với thuật ngữ “cách mạng”. Chúng ta thích nghĩ rằng có nhiều thứ mang tính cách mạng, theo nghĩa là chúng thay đổi mọi thứ. Từ quan điểm này, tôi có thể nói rằng thay vì có một cuộc cách mạng thực sự phía trước, chúng ta có một sự phát triển của Cách mạng công nghiệp. Cuộc cách mạng công nghiệp được mô tả như một hệ thống thay thế một số nhiệm vụ do con người thực hiện bằng máy móc. Sự khởi đầu của Cách mạng công nghiệp đã thay thế sức mạnh cơ bắp. Ngày nay chúng ta muốn thay đổi một chút khả năng nhận thức của con người. Máy móc làm tốt việc tuân theo tất cả những điều này, nhưng máy móc vẫn chỉ là sự bắt chước và không có ý thức, ý chí riêng. Vì thế cách mạng là một thuật ngữ quá mạnh. Tuy nhiên, điều cần làm rõ ngay là những tác động của Trí tuệ nhân tạo đối với xã hội có thể mang tính “cách mạng”. Nếu Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên tác động đến những người lao động chân tay, khiến họ ít cần thiết hơn trong quá trình sản xuất, thì Trí tuệ nhân tạo có thể và sẽ có tác động rất lớn đến những người có học vấn cao, tức là đối với những công việc hình thành nên tầng lớp trung lưu và nếu chúng ta không quản lý nó theo các tiêu chí công bằng xã hội, thì những tác động có thể thực sự tàn khốc hoặc ít nhất là rất mạnh đến khả năng gắn kết của các quốc gia dân chủ. Cách đây vài năm, khoa học gia vĩ đại Stephen Hawking đã tuyên bố rằng sự thành công của Trí tuệ nhân tạo có thể là sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử loài người, nhưng nếu chúng ta không tránh được những rủi ro thì nó cũng có thể đặt dấu chấm hết cho chính nhân loại. Đâu là những bước đi đúng để phát triển mà không gây hậu quả tai hại? Để trả lời câu hỏi này cần một suy tư về Học thuyết Xã hội của Giáo hội để phân biệt rõ giữa đổi mới và phát triển. Đổi mới hoặc tiến bộ công nghệ là khả năng thực hiện điều gì đó theo cách ngày càng hiệu quả và mạnh mẽ hơn. Chúng ta hãy nghĩ, thật không may, về một lĩnh vực tiêu cực diễn ra hàng ngày, đó là chiến tranh. Súng, súng máy, bom, bom nguyên tử là một số điểm của sự đổi mới trong chiến tranh. Tuy nhiên, chẳng ai nghĩ bom nguyên tử hay súng là tốt hơn. Trái lại, phát triển là đổi mới công nghệ và biến nó thành một thứ hướng tới lợi ích xã hội, công ích. Tất cả những đổi mới công nghệ đều mang theo những câu hỏi về đạo đức. Với trí tuệ nhân tạo, những câu hỏi này có vẻ phức tạp hơn nhiều so với trước đây. Tại sao? Những máy móc này có khả năng thích ứng với bối cảnh để theo đuổi mục tiêu. Nhưng như mọi khi, mục đích không biện minh cho phương tiện! Ở một mức độ nào đó, máy móc có thể xác định phương tiện nào là phù hợp nhất để theo đuổi mục đích. Về bản chất là một cái máy nó cần những “rào chắn đạo đức” rộng lớn, bởi vì mục đích không biện minh cho phương tiện. Trí tuệ nhân tạo có thể tự đặt ra các câu hỏi đạo đức một cách tự động và tìm ra câu trả lời, hay chiều kích đạo đức này sẽ luôn là đặc quyền của con người? Mặc dù một số bộ phim khoa học viễn tưởng có thể khiến chúng ta suy nghĩ, nhưng ý thức không phải là điều gì đó thuộc về máy móc. Vì vậy không có tính chủ quan nào chất vấn chính nó hay chất vấn thế giới. Trí tuệ nhân tạo là một cái máy thực hiện các nhiệm vụ, nhận mục đích từ con người, như con robot nhỏ có thể lau chùi nhà cửa, vì thế tôi bảo nó: “làm sạch nhà”, nó điều chỉnh phương tiện bằng cách sử dụng máy hút bụi, nó gặp một vật cản, ví dụ cầu thang, nó quay trở lại, tất cả những thứ liên quan đến mục đích đó. Vì vậy phần “tay cầm mới” của trí tuệ nhân tạo, tức là việc lựa chọn mục đích phù hợp, phải và chỉ có thể nằm trong tay con người. Điều này không có nghĩa là trao mục đích cho cái máy mà không suy nghĩ nhiều, không tự đặt những câu hỏi phù hợp, có thể dẫn đến những kết quả thảm hại, ngay cả khi không có sự hiện diện của một máy có ý thức. ChatGpt, công cụ trí tuệ nhân tạo “phổ biến” hiện nay. Đối với một số người, nó chỉ là một thứ đồ chơi, nhưng đối với những người khác nó cho con người ý tưởng về những thay đổi cuộc sống. Cha đánh giá như thế nào về điều này? Thành công mà ChatGpt có được thật ấn tượng. Đó là ứng dụng được tải nhiều nhất từ trước đến nay. Nếu một mặt điều này cho chúng ta biết trí tuệ nhân tạo mê hoặc chúng ta đến mức nào thì mặt khác nó cũng mở ra cho chúng ta nguy cơ hiểu sai, bởi ChatGpt sinh ra không phải là một sản phẩm công nghiệp nhằm mục đích sử dụng cho một việc gì đó nhưng là một loại về bản demo tuyệt vời mà công ty OpenAI đã mở ra cho công chúng để thể hiện sức mạnh của những gì đang phát triển. ChatGpt chỉ đơn giản là sự mở rộng của các sản phẩm khác có tên Gpt, là những mô hình ngôn ngữ lớn, là những cái máy làm việc với số lượng văn bản khổng lồ - được cắt nhỏ một cách thích hợp thành các phần nhỏ được gọi là “tham số” - và từ đó, ở một mức độ nào đó, nó đã xác định được về mặt thống kê mức độ ăn khớp giữa các từ với nhau. Như thế ChatGpt là một hệ thống trong đó một câu đầu vào sẽ tạo ra một văn bản đầu ra. Nhưng văn bản này được hoàn thiện với sự tác động của nhiều người, bắt đầu phản hồi với máy này và “nói” cho máy biết đâu là câu trả lời tốt nhất và tệ nhất trong số những câu trả lời mà nó cung cấp. Thật không may, hầu hết mọi người, khi ChatGpt đến, đã không hiểu nó theo cách này. Vậy việc hiểu sai về công cụ ChatGpt có thể tạo ra vấn đề gì? Điều này dẫn đến những sai sót lớn, vì máy được chế tạo theo cách mà văn bản phải xuất phát từ câu hỏi đầu vào của tôi, nhưng văn bản đó không được kiểm tra. Nếu ChatGpt tạo ra văn bản hay, điều đó không có nghĩa là nó tạo ra nội dung có thật. Đây là tất cả những tiềm năng và rủi ro của máy. Tiềm năng cuối cùng là có một công cụ xử lý ngôn ngữ một cách rất mạnh mẽ. Giới hạn là chúng ta không hiểu rằng đó là một loại bản demo tuyệt vời và nó không phải là một công cụ tối ưu và chúng ta dựa vào máy móc cho những điều không có giá trị. Đừng bao giờ hỏi cái máy này về cách chữa bệnh! Trong nhiều năm, người ta nói về khoảng cách kỹ thuật số ngăn cách các quốc gia có công nghệ tiên tiến nhất với các quốc gia đang phát triển. Với trí tuệ nhân tạo, có phải khoảng cách này có nguy cơ ngày càng gia tăng, khiến những dân tộc vốn đang cố gắng để khẳng định mình trong một thế giới và nền kinh tế ngày càng toàn cầu hóa càng bị lùi về phía sau không? Hoàn toàn đúng như vậy. Trí tuệ nhân tạo có thể hoạt động ở cấp số nhân. Nơi nào có của cải và cơ cấu có nhiều tài nguyên, có thể nhân rộng. Những hệ thống này - mang tính toàn cầu - là đặc quyền và tài sản của rất ít công ty toàn cầu. Hiện tại, chín công ty toàn cầu đang thực hiện những đổi mới lớn về trí tuệ nhân tạo, tất cả đều có vốn hóa hơn một ngàn tỷ đô la. Tóm lại, nó không phải là một sản phẩm phổ biến, nó không phải là thứ mà ai cũng có thể tiếp cận được. Có nguy cơ ngày càng tăng về một hình thức phụ thuộc vào rất ít nhà độc quyền. Một yếu tố khác cần đưa vào bảng quyết toán này là “chi phí ẩn” của các công nghệ được tạo ra trên máy tính dựa trên đất hiếm và các vật liệu khác phải trả giá về môi trường rất cao và tiêu thụ nhiều điện. Vì vậy, nếu chúng ta tự chất vấn với sự ngạc nhiên về ý nghĩa kỳ diệu của những loại máy này, chúng ta cũng không được quên rằng chúng ta có được một phần ít hơn nhưng đắt hơn nhiều về mặt bình đẳng, cái giá về môi trường và năng lượng, điều này phải được cân nhắc để không trở thành cái giá mà các quốc gia nghèo nhất thế giới phải trả. Các chính phủ đang trang bị cho mình những quy định về trí tuệ nhân tạo, trong khi Liên Hiệp Quốc cũng đang giải quyết vấn đề này. Cha được Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc bổ nhiệm vào ủy ban gồm 39 chuyên gia về trí tuệ nhân tạo. Nhiệm vụ của cơ quan này là gì? Đây là một ủy ban hỗ trợ Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc. Những gì chúng tôi được yêu cầu trước hết là thông tin những gì đang xảy ra với hình thức đổi mới này và thực hiện nó một cách rất cân bằng. Trước tiên, chúng tôi được yêu cầu báo cáo những lợi ích to lớn mà những công nghệ này có thể mang lại cho nhân loại. Như sự gia tăng khả năng chăm sóc, về những cơ hội có thể tạo ra những hình thức giàu có mới. Nhưng chúng tôi cũng được yêu cầu đánh giá rủi ro, không chỉ vì sự bất bình đẳng có thể gia tăng, mà bởi vì đặc biệt là trong các dạng trí tuệ nhân tạo mới nhất, chẳng hạn như loại chúng ta vừa đề cập - ChatGpt - chúng tôi có một loại máy có khả năng “thuật lại”, có khả năng kể chuyện, các câu chuyện có thể giúp định hình dư luận. Do đó, máy này có thể được sử dụng cho những mục đích không hẳn là tích cực, như gia tăng sự thù hận trong xã hội hoặc tạo ra những kẻ thù không hề tồn tại. Một loại máy có thể ảnh hưởng đến dư luận rất nhiều rõ ràng là một cỗ máy cần được xem xét rất cẩn thận, đặc biệt là đối với những cơ quan mong muốn cộng tác hướng tới hòa bình toàn cầu hoặc phát triển công bằng. Nhiệm vụ của ủy ban Liên Hiệp Quốc cũng là đưa ra một khuôn khổ khả thi để chúng ta có thể tìm kiếm các thỏa thuận quốc tế dựa trên nền tảng giá trị có thể giúp công cụ này trở thành một hình thức phát triển chứ không chỉ đơn giản là một hình thức lợi nhuận cho một số ít. Giáo hội không né tránh cuộc tranh luận về trí tuệ nhân tạo. Tòa Thánh cũng đang làm việc về ranh giới này trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Các sứ điệp tiếp theo của Đức Thánh Cha cho Ngày Hòa bình Thế giới và Ngày Truyền thông Xã hội có thể sẽ lấy trí tuệ nhân tạo làm chủ đề. Vậy đóng góp quan trọng nhất mà Giáo hội có thể đưa ra là gì? Giáo hội tự hiểu mình là “chuyên gia về nhân loại”. Đó là một tổ chức có mặt ở khắp mọi nơi, thu thập và cống hiến những gì cuộc sống con người ngày nay trong tất cả những khát vọng lớn lao, những giấc mơ, cũng như trong sự mong manh và sợ hãi của con người, vốn là mảnh đất màu mỡ đầu tiên mà trên đó Giáo hội đưa ra suy tư cho toàn thế giới. Kể từ năm 2020, chủ đề này đã hiện diện và đã ảnh hưởng đến các suy tư theo nhiều cách ngay cả trong Tòa Thánh. Rõ ràng là, giống như tất cả các chủ đề lớn, trong cuộc gặp gỡ sự phong phú của nhân loại cũng cần trưởng thành đến từ bên dưới, từ sự hiện diện mục vụ và từ khả năng suy tư liên kết với Tin Mừng và suy tư thần học. Sự chú ý lớn này xuất hiện vào thời điểm Đức Thánh Cha muốn dành tầm quan trọng lớn cho một số chủ đề toàn cầu, chẳng hạn như việc chăm sóc ngôi nhà chung và tình huynh đệ. Việc chăm sóc ngôi nhà chung và tình huynh đệ có thể là hai trong số những quan điểm tuyệt vời mà Giáo hội mang đến sự đóng góp độc đáo và tích cực cho cuộc tranh luận này. Chúng ta không chỉ cần đóng góp về mặt chính trị và công nghiệp, mà còn đóng góp về mặt nhân loại. Sự đóng góp này về mặt nhân loại, một nhân loại đang sống trong một môi trường, trong một ngôi nhà là hành tinh của chúng ta, và sống như anh chị em, là một đóng góp cho việc “nhân bản hóa” trí tuệ nhân tạo, nghĩa là cho sự biến đổi của tiến bộ trong sự phát triển con người đích thực, điều rất cần thiết ngày nay.   Nguồn: vaticannews.va/vi

Phóng sự: Ảnh hưởng của mạng xã hội đối với giới trẻ

PHÓNG SỰ:ẢNH HƯỞNG CỦA MẠNG XÃ HỘI ĐỐI VỚI GIỚI TRẺ Nhóm Gia-Đức-Thiêm WGPSG (12.12.2023) - Ước mong các Kitô hữu đều sẽ trở nên như người Samari nhân lành, chăm sóc cách hữu hiệu cho những người bị tổn thương, bầm dập và ngã quỵ bên đường trong thế giới kỹ thuật số... I. HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI Hiện nay, với sự phát triển của mạng internet và những phương tiện truyền thông hiện đại, nhân loại đang cảm thấy tự hào vì thấy mình đã đạt được đỉnh cao của công nghệ. Những tiện ích của nó mang tới, đang ngày càng đi sâu và chi phối mọi sinh hoạt đa dạng của con người, giúp họ cảm thấy gần nhau hơn, rút ngắn khoảng cách địa lý. Tất cả các thông tin cần thiết về mọi vấn đề của cuộc sống có thể được chia sẻ với nhau một cách nhanh chóng và tiện lợi nhất. Nhưng người sử dụng công nghệ truyền thông bao gồm đủ mọi thành phần và mọi tổ chức đa dạng trong xã hội và trong các tôn giáo: từ các hiệp hội, đoàn thể, giáo xứ, giáo phận, công ty, xí nghiệp đến những tổ chức thuộc cấp tỉnh thành, quốc gia, quốc tế, từ những em nhỏ đến cả những người lớn tuổi. Những phương tiện họ sử dụng cũng rất đa dạng: desktop, laptop, notebook… và phổ biến nhất vẫn là chiếc điện thoại di động thông minh. Cần ghi nhận rằng, những người trẻ là thành phần sử dụng mạng xã hội nhiều hơn cả do sự tiếp cận nhanh lẹ - là những nét đặc trưng của tuổi trẻ trước những tiến bộ và thành tựu của nhân loại. Theo nghiên cứu của Trung tâm Pew (một trung tâm nghiên cứu về nhân khẩu học có tiếng tại USA), 90% các bạn tuổi teen từ 13 đến 17 tuổi đã sử dụng những mạng xã hội. 75% các em ít nhất đã có một tài khoản riêng trên mạng xã hội, 51% sử dụng mạng xã hội hằng ngày và 2/3 các em có những thiết bị di động truy cập được internet[1]. Các mạng xã hội phổ biến được các bạn trẻ sử dụng nhiều: MẠNG XÃ HỘI TRẺ EM (8-12 tuổi) TUỔI TEEN (13-19 tuổi) YOUTUBE 80 % 86 % FACEBOOK 26 % 75 % SNAPCHAT 26 % 67 % INSTAGRAM 24 % 70 % Đáng chú ý hơn, theo số liệu mới được cập nhật sau đại dịch Covid 19, đang nổi lên thêm mạng xã hội có tên gọi TikTok, với con số thống kê là 32.5% người dùng từ độ tuổi từ 10-19 tuổi. (theo số liệu của Công ty phân tích và nghiên cứu thị trường Apptopia của Mỹ)[2]. Và bất ngờ là, lượng người dùng Tiktok tại Việt Nam đang đứng thứ 6 trên thế giới, trong đó có tới 4 triệu người dưới 18 tuổi dùng mạng xã hội này![3] Chúng ta không còn xa lạ gì khi TikTok được xem là nền tảng mạng xã hội đang phổ biến nhất dành cho trẻ em và thanh thiếu niên hiện nay. Việc sử dụng Mạng xã hội cách phổ biến khắp nơi như thế đã mang lại những gì cho nhân loại hôm nay, đặc biệt là cho giới trẻ? Đây là câu hỏi mà nhóm học viên “Gia - Đức - Thiêm” của lớp Mục vụ Truyền thông Tổng Quan niên khóa 2023 -2024 đưa ra, để từ đó thực hiện một phóng sự mang tên “Ảnh hưởng của mạng xã hội đối với giới trẻ” với những sự kiện mình đã tận mắt chứng kiến… II. NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY 1. Buồn chán, hỗn xược và tự khẳng định Một cô bé lớp 9 có gương mặt nặng vẻ buồn chán, ít muốn tiếp xúc với người lạ và thế giới xung quanh vì suốt ngày chỉ biết làm bạn với những BFF (best friend forever) mà em tìm được trên Facebook. Một game thủ lớp 10 phàn nàn và lớn tiếng khi cha mẹ cắt mạng internet của em một cách bí mật mà không thông báo trước cho em. Một học sinh lớp 8 vụng về, học kém trong lớp nhưng lại trở thành ngôi sao hot nhất Youtube. 2. “Âu yếm” quá mức Tại một giáo xứ nọ (xin được giấu tên), trong một lớp giáo lý thuộc tuổi teen, có 2 bạn nam và nữ quen nhau và dần trở nên “thân thiết” với nhau lúc nào cũng không biết, trao đổi nhắn tin qua lại, chat với nhau trên mạng. Chuyện gì đến thì cũng phải xảy đến, hai bạn nhỏ đã có những biểu hiện, cử chỉ âu yếm vượt qua mức cho phép và đã quan hệ tình dục với nhau khi đang còn học cấp II. Giáo lý viên đã nhắc nhở nhiều lần, mời phụ huynh lên làm việc nhưng hai bạn nhỏ chỉ hạn chế tiếp xúc với nhau một thời gian rất ngắn và có thái độ trốn tránh chạm mặt với ban giáo lý. Sau đó, mọi việc vẫn tái diễn như cũ. Nỗi đau lòng ray rứt đáng nói ở đây là, phụ huynh cô bé cũng nản, không muốn nói động tới cô nữa và chỉ buông một câu với con của mình: “Tụi mày làm sao đó thì làm, miễn sao đừng để dính bầu là được!” 3. Hăm dọa trên mạng Chuyện xảy ra tại một giáo xứ thuộc một Quận gần trung tâm thành phố Hồ Chí Minh. Hai cậu học sinh lớp 8 cùng học chung với nhau. Tuy còn rất nhỏ tuổi, nhưng Nguyễn Văn A rất lanh lợi, cũng tập tành bán hàng online trên mạng. Cậu đã chào mời bạn học của mình, là Trần Văn B và B đã đồng ý mua món hàng có giá trị khá cao so với lứa tuổi học trò. Dĩ nhiên, B không đủ số tiền lớn như vậy để mua, nên đã xin tiền mẹ. Và mẹ của B không bằng lòng cho con mình mua một món đồ có giá trị quá cao như vậy, nên từ chối cho tiền B. Cuộc giao dịch mua bán “chốt đơn” không thành công! A tức giận, đã dùng mạng xã hội để chửi và hăm dọa B trên các phương tiện truyền thông bằng những bình luận tàn nhẫn, cay nghiệt, làm cho B bị ám ảnh, tâm lý bị ảnh hưởng, sống trong tâm trạng nơm nớp lo âu, dẫn đến bị trầm cảm suốt một thời gian dài… 4. Đạo đức nhờ mạng xã hội Cô bé Lê Thị H được 9 tuổi. Gia đình của cô bé bao gồm cả ba thế hệ: ông bà ngoại, ba mẹ và con cái, sống chung một nhà với nhau. Đây là một gia đình đạo đức mà tất cả thành viên đều là Công giáo. Với tính hiếu kỳ năng động của trẻ nhỏ, cô bé H cũng thích khám phá thế giới xung quanh thông qua cái máy tính hoặc điện thoại của ba mẹ. Nhưng dưới sự giám sát của ông bà ngoại, và sự giáo dục hướng dẫn tận tình của ba mẹ, cô bé chỉ thích xem phim Cựu ước, Tân ước và các phim kể về cuộc đời của các vị thánh Kitô giáo. III. NHẬN ĐỊNH 1. Tâm lý lứa tuổi & thời đại kỹ thuật số Những trường hợp trên đây cho thấy mạng xã hội đã tác động rất lớn đến tâm sinh lý của giới trẻ, mà không phụ thuộc vào chỉ số IQ hay EQ cao hay thấp. Sự phát triển của tuổi teen với những nét đặc trưng của nó như: muốn tự thể hiện bản thân, bốc đồng, tâm sinh lý chưa hoàn thiện… là điều rất bình thường. Và sự bùng nổ của kỹ thuật số đã như một cơ hội đặc biệt để họ thể hiện sự đang phát triển này. Ngày nay, 89% trẻ ở độ tuổi dậy thì đã có điện thoại thông minh riêng. Trẻ lớn lên cùng với Instagram và Facebook. Trẻ thực hiện các bài nghiên cứu dựa vào Google. Họ tìm kiếm sự hỗ trợ tinh thần trên các diễn đàn dành cho thanh thiếu niên. Khi có những tâm sự thầm kín không biết tỏ bày cùng ai, các em lên mạng, thoải mái bộc lộ trên group, hội, nhóm chat. Thậm chí họ cũng dễ dàng nói tiếng “yêu”, gọi bạn đối tác là “ông xã, bà xã” một cách tùy tiện trên các mạng xã hội một cách công khai và “quốc dân”. Điều nguy hiểm là, trên mạng có những thông tin tốt, nhưng những thông tin xấu cũng tràn lan trên mạng. Chúng có thể làm cho những trẻ em đang còn ở độ tuổi cắp sách đến trường thích thú đồng tình với cái ác, để rồi sẵn sàng làm điều ác, vì cái ác đã được truyền thông trình bày một cách hấp dẫn. Những thông tin xấu lại thường “giật gân” và cuốn hút các em thích xem hơn là những thông tin tốt lành. 2. Mối bận tâm của phụ huynh Những tác động tiêu cực như những trường hợp vừa nói đến trên đây khiến phụ huynh phải lo lắng. Không lo lắng sao được khi thấy các bạn trẻ lúc nào cũng dán mắt vào chiếc điện thoại thông minh, Ipad, máy tính, không chỉ trong giờ rảnh, mà cả trong giờ học, trong giờ đáng lý phải ngủ nghỉ. Không hoang mang sao được khi các bạn trẻ đua đòi chạy theo việc sở hữu những thiết bị cảm ứng hiện đại nhất với nhiều chức năng để truy cập internet một cách dễ dàng, nhanh chóng và cảm thấy bối rối khi con thu mình trong phòng hay một chỗ nào đó với những phương tiện này, mà chẳng để ý hay quan tâm đến ai khác. Không bất lực sao được khi những giao tiếp của các bạn trẻ với những bạn bè hoặc thậm chí cả những người lạ trên mạng mà không có sự đồng hành hay cho phép của những người có trách nhiệm. Các bậc cha mẹ cảm thấy thực sự khổ tâm khi chứng kiến những tình huống bị động như thế! Các phụ huynh cũng đã trăn trở, cũng đã đưa ra những biện pháp, cũng đã tìm cách đặt ra những quy tắc để khống chế các em như: quy định về thời gian sử dụng các công nghệ, hoặc đặt ra các phương thức nhằm hạn chế sự lạm dụng sử dụng mạng, hoặc cắt đứt liên lạc mạng xã hội, muốn tách biệt các em với thế giới ảo, nhưng xem ra cũng không hiệu quả lắm. Các bạn nhỏ cũng cố tìm cách lách được, để rồi cuối cùng, các bậc làm cha làm mẹ phải đi đến sự thỏa hiệp hoặc mắt nhắm mắt mở làm ngơ cho xong, do còn phải lo cơm áo gạo tiền. 3. Những mặt tích cực của mạng xã hội Mạng xã hội đã tạo cho các em một sân chơi bình đẳng trên phương diện tương tác rộng, cho phép các em biết tạo danh tính trực tuyến, giao tiếp với những người khác, làm quen kết bạn mới, tạo lập mối quan hệ tương giao online với nhau. Việc kết bạn này không bị hạn hẹp về địa lý và không gian, có thể mở rộng tới những bạn bè khắp năm châu. Các bạn trẻ biết thiết lập và xây dựng mạng xã hội cho riêng mình. Các mạng lưới thông tin này có thể cung cấp cho các em sự hỗ trợ có giá trị tinh thần, đặc biệt là giúp đỡ những người bị loại trừ, bị khuyết tật hoặc bị bệnh mãn tính, giúp hình thành các kỹ năng phát triển và hoàn thiện bản thân mình trong giai đoạn trưởng thành. Các em cũng sử dụng mạng xã hội để giải trí và thể hiện bản thân, tự khẳng định mình. Có một nghiên cứu khác cho thấy, các bạn trẻ thuộc lứa tuổi teen nếu thường diễn đạt bản thân, biết đối thoại và trình bày quan điểm của mình trên mạng, thì cũng có được lối “tư duy lập luận sáng sủa hơn nhiều”![4]                                                                                             Nói cách khác, các bạn trẻ đó có những lối diễn tả ý tưởng rõ ràng, trong sáng hơn về bản thân. Và việc nhận biết bản thân này cũng giúp các em có được một đời sống tâm lý tốt hơn các bạn khác cùng trang lứa. Vì thế, bên cạnh những nỗ lực phát huy tính tự ý thức bản thân của các em, cha mẹ cũng nên có sự quan tâm đúng mực, đồng hành cùng con trong “thế giới kỹ thuật số”, là điều kiện tiên quyết rất quan trọng không thể thiếu. Đừng để mặc con lạc loài hay cảm thấy chơi vơi trước mạng xã hội. Cần bảo vệ con và cộng đồng trước các nguy cơ có hại đang ngày càng gia tăng trên các mạng xã hội. IV. KẾT LUẬN Ngày nay, khi cần biết bất cứ thông tin dữ liệu gì, mọi người đều có thể search hỏi Google một cách nhanh chóng. Ông “Gật gù” này có cả một kho kiến thức để giải đáp mọi thắc mắc của con người, hiếm khi thấy ông lắc đầu từ chối. Và gần đây, nhân loại đang làm quen với ứng dụng công nghệ hiện đại “Trí tuệ nhân tạo” (viết tắt AI) vào các lĩnh vực công nghiệp và trong cuộc sống đời thường. Nó đã là “trend” trong cách xử lý và ứng dụng công nghệ, nhưng lại cũng đang trở thành mối lo ngại lớn lao về những nguy cơ khủng khiếp có thể có, phát sinh từ việc lạm dụng AI cho những ý đồ xấu. Trước những lo ngại này, nếu có một gia đình an toàn cho các em, nơi con cái muốn chia sẻ với cha mẹ nhiều điều, và được hướng dẫn những kỹ năng sử dụng Internet tương thích, từ đó đưa ra phương án giáo dục thích hợp, thì hy vọng những độc hại trên mạng xã hội sẽ không thể xâm hại được tới con trẻ. Để kết thúc bài phóng sự, xin trích dẫn một câu hỏi của một thanh niên thế hệ 9X, đặt ra cho mẹ của mình: “Mẹ ơi, con nhờ AI nói lời cầu nguyện với Chúa thay cho con được không?”[5] Người mẹ vẫn còn đang băn khoăn, e ngại cho lối suy nghĩ của con mình, và vẫn để ngỏ câu trả lời… Câu hỏi này cho thấy đã xuất hiện những hiện tượng ỷ lại, lười suy nghĩ đặc biệt nơi thế hệ trẻ - là thế hệ tiếp cận nhanh nhất với tiến bộ công nghệ. Liệu rằng trong tương lai, con cái chúng ta có nhờ “AI” cầu nguyện thay cho mình, lo luôn cả phần hồn cho mình không? Các bạn nhỏ sẽ ít dần thời gian tâm tình với Chúa, cầu nguyện cùng với Chúa bằng cảm xúc thật của con người. Như vậy, trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin hiện nay, liệu rằng chúng ta có nắm bắt kịp xu hướng của thời đại để sẵn sàng trả lời một cách tự tin cho giới trẻ về những câu hỏi tương tự như thế chưa? Các Kitô hữu đã chuẩn bị cho mình hòa nhập với sự phát triển công nghệ thời đại mới, để có thể đưa ra những hướng dẫn về lối sống Đức tin của người Kitô giáo, cho thế hệ tương lai của chúng ta sau này chưa? Năm tới (năm 2024), chủ đề cho sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội được Đức Thánh Cha chọn là: “Trí tuệ nhân tạo và trí tuệ của trái tim: để đạt được sự giao tiếp trọn vẹn của con người”.  Hy vọng rằng, chúng ta sẽ nhận được Huấn từ của vị Cha chung một cách cụ thể nhất, chỉ đường cho chúng ta biết nên làm gì cho thích ứng với cuộc sống hiện đại này, sống sao cho xứng là con cái dân Chúa. Ước mong các Kitô hữu đều sẽ trở nên như người Samari nhân lành, chăm sóc cách hữu hiệu cho những người bị tổn thương, bầm dập và ngã quỵ bên đường trong thế giới kỹ thuật số, khi hướng tới sự hiện diện tròn đầy như văn kiện “Suy tư mục vụ về việc tham gia Mạng xã hội” mà Bộ Truyền thông vừa phát hành năm nay. Nguồn: tgpsaigon.net (12.12.2023)

Bảo vệ ngôi nhà chung từ ngôi nhà Giáo xứ

BẢO VỆ NGÔI NHÀ CHUNG TỪ NGÔI NHÀ GIÁO XỨ Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc SJ WHĐ (13.12.2023) – Chưa bao giờ vấn đề môi sinh (ecological environment) được quan tâm nhiều như hiện nay. Đây vừa là tín hiệu đáng buồn, nhưng là dấu chỉ của hy vọng. Buồn vì bất kỳ ai trong chúng ta đều cảm thấy môi trường sinh thái đang bị ô nhiễm. Môi trường sống đang đe dọa sức khỏe người dân. Hệ sinh thái cũng đang bị bào mòn. Hệ quả thì ai cũng thấy, nhưng không biết bao giờ môi trường sống trở lại như ngày xưa? Còn tín hiệu vui vì chúng ta đã ý thức được vấn đề. Ở mức vĩ mô, thế giới và chính phủ mỗi nước cũng đang thực hiện những bước cần thiết để bảo vệ ngôi nhà chung. Cũng như nhiều cuộc họp trước, tháng 12 năm 2023 đã diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc về Khí hậu (COP 28). Trong dịp này (02-12-2023), Đức Giáo Hoàng đã có bài diễn văn[1] để cùng góp tiếng nói cho tiến trình chăm sóc ngôi nhà chung. Ở mức vi mô, trong bài này tôi muốn chia sẻ ước mơ của Giáo hội, của Giáo hoàng dành cho các giáo xứ, các gia đình Công giáo. 1. Môi trường sống là của Thiên Chúa Thử tưởng tượng ai đó xúc phạm đến Thiên Chúa, chắc chắn chúng ta không đồng ý. Tưởng tượng ai đó không tôn trọng món quà bạn trao, hẳn nhiên người ấy cũng không tôn trọng bạn. Cũng vậy, thiên nhiên và thụ tạo là món quà của Thiên Chúa dành cho mọi người. “Trần gian không phải là sản phẩm của bất cứ một luật tất yếu, một định mệnh mù quáng hoặc một sự ngẫu nhiên nào. Chúng ta tin trần gian xuất phát từ ý muốn tự do của Thiên Chúa, Đấng đã muốn cho các thụ tạo được tham dự vào hữu thể, sự khôn ngoan và sự tốt lành của Người”[2]. Dòng sông, cánh rừng hoặc môi trường sống không phải của riêng ai. Về mặt thần học, Thiên Chúa trao cho con người quản lý, và môi trường thiên nhiên có nhiệm vụ phục vụ con người (x. St 1,15 và 26.28). Chúng ta không thể tồn tại mà không có không khí, không có ánh sáng mặt trời. Chúng ta càng gặp nguy hiểm nếu nhân loại gặp khủng hoảng về thiên nhiên. Nếu không tôn trọng ngôi nhà chung, chúng ta cũng gặp hiểm họa. Vì lý do này, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đề cập ngay đầu bài diễn văn: “Biến đổi khí hậu là một vấn đề xã hội toàn cầu có liên hệ mật thiết đến phẩm giá sự sống con người.” (Tông huấn Laudate Deum, 3).   Tôi lấy một ví dụ đơn sơ này: Tôi vứt rác ra ngoài đường. Ai cũng xả rác, tự nhiên tôi cảm thấy mình không có lỗi. Tuy nhiên, nếu tôi ở Đức hoặc Singapore, người ta sẽ khinh thường nếu tôi xả rác. Lý do là tôi không tôn trọng luật bảo vệ môi trường. Sâu xa hơn, tôi không tôn trọng phẩm giá của người khác, của xã hội. Vì quan niệm này mà nhiều người hết sức để ý đến hành vi xả rác của mình. Người càng văn minh, càng ít xả rác thải! Hơn nữa, “chăm sóc cho thế giới nơi chúng ta đang sống đồng nghĩa với chăm sóc chính mình.” (Thông điệp Fratelli Tutti, số 17). Hoặc nói như Đức Giáo Hoàng: “Chúng ta hãy chọn sự sống! Chúng ta hãy chọn tương lai!” Tưởng tượng một em nhỏ được cha mẹ dạy cho cách thức bảo vệ môi trường. Văn hóa này đi vào tâm thức và hành động của trẻ. Lớn lên, em trở thành một giám đốc công ty, hoặc một nhà lãnh đạo xã hội. Ý thức bảo vệ môi trường của em sẽ tuôn chảy đến các chính sách vĩ mô và vi mô. Vậy là nhiều người được hưởng nhờ. Một hành động nhỏ của chúng ta lúc này sẽ là hoa trái lớn lao của tương lai sau này. Do đó, Giáo hội vẫn không mệt mỏi khuyến khích và đưa ra những chỉ dẫn để con cái mình bảo vệ ngôi nhà chung. Vì đây là mệnh lệnh của Thiên Chúa. Mệnh lệnh này được Đức Giáo Hoàng Phanxicô diễn tả chi tiết trong Tông Huấn “Laudato Si'”. Laudato si' là từ tiếng Latinh, có nghĩa: Chúc tụng Thiên Chúa. Đó là tên chính của Tông Huấn được Đức Giáo Hoàng Phanxicô công bố ngày 18 tháng 6 năm 2015. Bên dưới Tông Huấn có phụ tựa: Chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta. Ngoài ra, Laudato si' cũng gợi cho người đọc nhớ đến một vị thánh nổi tiếng thân thiện và luôn chăm sóc thiên nhiên: Thánh Phanxicô Assisi. Chẳng hạn bài ca về Thiên Nhiên nổi tiếng của ngài âm vang: “Chúc tụng Chúa, lạy Thiên Chúa của con, ngang qua người Chị của chúng con, Mẹ Trái Đất, là người nuôi dưỡng và điều hành chúng con, và là người sản sinh ra nhiều hoa trái khác nhau với nhiều loại hoa muôn sắc và cỏ cây” (Laudato si’ số 1). 2. Bắt đầu từ Giáo xứ Trong bài diễn văn trên, Đức Giáo Hoàng đặt ra câu hỏi này: “Tại sao không bắt đầu ngay từ ngôi nhà chung?” Tôi nghĩ Giáo hội Việt Nam cũng đã và đang bắt đầu trong công việc khẩn thiết này. Mỗi giáo phận cũng có người chuyên trách để hướng dẫn các gia đình trong giáo phận ý thức và thực hành sứ mạng này. Chẳng hạn hè 2023 tôi tham dự đại Hội Giới Trẻ Thế Giới. Chủ đề xuyên suốt cho tuần gặp gỡ này là: “Làm sao để phát triển con người toàn diện?” Trong đó có vấn đề môi sinh. Dưới sự hướng dẫn của Đức Giám mục Luy Nguyễn Anh Tuấn, chúng tôi được nghe nhiều chia sẻ thú vị. Bắt đầu gây ý thức. Đó là lời chia sẻ của linh mục thuộc giáo phận Xuân Lộc về chương trình bảo vệ môi trường tại trung tâm hành hương Đức Mẹ Tà Pao. Lúc đầu cha và nhóm đặt nhiều thùng rác; đồng thời sau mỗi thánh lễ, cha mời gọi mỗi người nhìn xuống phía chân của mình, nếu có rác, xin vui lòng nhặt và bỏ vào thùng rác. Chưa đầy một phút, khu hành hương trở nên xinh đẹp hơn. Ngoài ra, cha triển khai dự án tái tạo rác thải. Dự án lớn hơn là cha trồng nhiều cây xanh ở khắp vùng Tà Pao. Chưa dừng ở đó, cha cũng chia sẻ với những đoàn hành hương về thao thức của giáo hội, của Tà Pao về một môi trường xinh đẹp. Đức Mẹ cũng nhìn thấy chương trình tốt đẹp này của Cha. Kết quả là chưa đầy một năm, cha đã giúp cho Tà Pao thân thiện với môi trường hơn. Ngoài ra, nhiều tham dự viên cũng góp những ý hay mà tôi xin tóm gọn trong mấy điểm sau: - Chăm sóc thiên nhiên: Hãy thực hiện các hành động như việc trồng cây, bảo vệ các loài động vật và sinh vật trong tự nhiên, và tham gia vào các dự án tái tạo môi trường. - Tiết kiệm năng lượng: Sử dụng năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng trong gia đình, như sử dụng bóng đèn LED, tắt thiết bị điện khi không sử dụng và cải thiện cách sử dụng năng lượng. - Tận dụng tài nguyên một cách có trách nhiệm: Tận dụng và tái sử dụng các tài nguyên như nước và vật liệu để giảm thiểu lãng phí. - Hỗ trợ và tham gia vào các hoạt động cộng đồng: Tham gia vào các hoạt động và dự án cộng đồng nhằm bảo vệ môi trường, như việc làm sạch môi trường, giáo dục cộng đồng về vấn đề môi trường. - Suy nghĩ và mua sắm có trách nhiệm: Hãy suy nghĩ về nguồn gốc và tác động của các sản phẩm trước khi mua hàng. Ưu tiên lựa chọn sản phẩm có xuất xứ và quy trình sản xuất thân thiện với môi trường. - Giáo dục về môi trường: Truyền đạt giáo dục về việc bảo vệ môi trường cho các thế hệ tiếp theo, thông qua việc học tập, thảo luận và hành động thực tế. Với những hướng dẫn của Giáo hội và của hội thảo trên đây, nếu là cha xứ, tôi sẽ làm: - Xây dựng ý thức cộng đồng: Cha xứ tổ chức các buổi hội thảo hoặc các chương trình giáo dục để nâng cao ý thức của cộng đồng về vấn đề bảo vệ môi trường. - Thực hiện các dự án tái tạo môi trường: Khuyến khích và hỗ trợ cộng đồng tham gia vào các dự án tái tạo môi trường như trồng cây, làm sạch khu vực xung quanh Giáo xứ, hay tái chế rác thải. - Áp dụng các biện pháp tiết kiệm năng lượng: Thực hiện việc sử dụng năng lượng tái tạo và giảm lượng tiêu thụ năng lượng không cần thiết trong các hoạt động của Giáo xứ. Ví dụ như chuyển sang sử dụng đèn LED, hệ thống năng lượng mặt trời, hoặc tắt thiết bị điện khi không sử dụng. - Thực hiện các chính sách môi trường: Cha xứ có thể xem xét việc thiết lập các chính sách nội bộ nhằm giảm thiểu lãng phí, hỗ trợ sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường và tái sử dụng tài nguyên. - Tạo ra các hoạt động xã hội và tình nguyện: Khuyến khích thành viên Giáo xứ tham gia các hoạt động xã hội và tình nguyện liên quan đến bảo vệ môi trường. Chẳng hạn như làm sạch khu vực công cộng, tham gia các chiến dịch tái chế, hoặc tham gia vào các dự án bảo tồn thiên nhiên. - Xây dựng một môi trường thông tin và giáo dục: Phát hành các tài liệu giáo dục, thông tin về việc bảo vệ môi trường và chia sẻ chúng với cộng đồng giáo xứ thông qua các kênh truyền thông và hoạt động giáo dục. Những gợi ý trên đây không nằm ngoài 4 lĩnh vực mà Giáo hội đang theo đuổi: “Sử dụng năng lượng hiệu quả; nguồn tái tạo; loại bỏ nhiên liệu hóa thạch; và giáo dục lối sống ít phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.”[3] Chúng ta thử tưởng tượng các giáo xứ cùng nhau làm điều này. Cha xứ và hội đồng mục vụ quan tâm hơn về môi trường sống của nhà xứ, của các gia đình trong giáo xứ của những vùng lân cận. Khi đó, các sáng kiến sẽ được trình bày, những quyết tâm sẽ được thực hiện và những khó khăn sẽ được giải quyết. Đức Giáo hoàng gọi những điều chúng ta đang làm là: “Hoán cải mang tính sinh thái”. Thực vậy, “không có sự thay đổi lâu dài nếu không có sự thay đổi về văn hóa” (Laudate Deum, 70). Các cha xứ và giáo dân lấy làm vui vì lời này của Đức Giáo Hoàng: “Tôi đảm bảo với quý vị về sự dấn thân và hỗ trợ của Giáo hội Công giáo, đặc biệt góp phần tích cực trong việc giáo dục và nâng cao nhận thức về sự tham gia của tất cả mọi người, cũng như trong việc cổ vũ những lối sống lành mạnh, vì tất cả mọi người đều có trách nhiệm và sự đóng góp của mỗi người là cơ bản”[4]. Sẽ là thoái lui nếu cứ mang thành kiến: nhắc nhau thì được gì, quan trọng là làm. Đúng vậy! Nhưng trước khi hành động, người ta cần ý thức và nhắc nhau về một vấn nạn khủng hoảng môi trường đang xảy ra. Từ đó chính người nhắc cũng có thêm động lực để bảo vệ môi trường nơi những điều cụ thể. Hãy tưởng tượng từ thuở thiếu nhi, các em được thầy cô dạy bảo, nhắc nhở và tập cho những việc làm nho nhỏ bảo vệ thiên nhiên. Từ từ các em sẽ có thói quen gìn giữ ngôi nhà chung của chúng ta. Đúng là thà thắp lên một ngọn nến còn hơn ngồi đó nguyền rủa bóng đêm. Bắt đầu từ suy nghĩ, từ bản thân, từ gia đình và từ giáo xứ! [1] https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/duc-thanh-cha-phanxico-keu-goi-cac-tham-du-vien-cop-28-hay-chon-su-song-hay-chon-tuong-lai-53083 [2] Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, số 295. [3] https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/duc-thanh-cha-phanxico-keu-goi-cac-tham-du-vien-cop-28-hay-chon-su-song-hay-chon-tuong-lai-53083 [4] Đã dẫn

Người khuyết tật trong đời sống Giáo Hội

NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRONG ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI Lm. Justin Glyn, SJGiáo sư Giáo luật, Trường Cao đẳng Thần học Công giáoMelbourne, Australia WHĐ (10.12.2023) - Hồi còn trẻ, có một lần tôi đi siêu thị cùng gia đình. Một người phụ nữ tỏ ra rất quan tâm tiến lại gần cha mẹ tôi và nói rằng thật đáng tiếc khi cậu bé tội nghiệp bị mù. Rồi bà ấy hỏi “Cậu ấy làm gì cả ngày?”, và tôi đã trả lời “Cậu ấy hành nghề luật”. Thật không may, chúng ta trong Giáo hội thường ở trong tình trạng đó, thiếu thiện chí để nhìn nhận cuộc sống của những thành viên khuyết tật một cách chính xác như nó là – cuộc sống của những người con bình đẳng của Thiên Chúa, cùng nhau lao động tùy theo ân sủng và tài năng trong vườn nho của Chúa. Vẫn còn sự phân biệt đối xử thịnh hành đối với người khuyết tật trong Giáo hội. Họ thường không tới gần được các tòa nhà, không tiếp cận được các tài liệu và các giả định thường không phản ánh thực tế sống động của tình trạng khuyết tật. Ví dụ, khi nộp đơn gia nhập Dòng Tên, thoạt đầu tôi được cho biết rằng tôi nên tìm kiếm một dòng ít học thuật hơn. Chỉ khi tôi cho người chiêu mộ ơn gọi biết rằng tôi đang hoàn thành bằng tiến sĩ (được hoàn thành vào năm tôi gia nhập) thì tôi mới được phép tiến hành. Tuy nhiên, người khuyết tật được hỗ trợ, và hỗ trợ người khác, bởi các mạng lưới và cộng đồng. Chúng tôi cũng là Giáo hội. Tôi có đặc ân lớn là được sống, không chỉ trong một giáo xứ mà còn trong một cộng đoàn tu trì luôn hỗ trợ nhau – Dòng Tên. Đồng thời, cả trước khi bước vào đời sống tu trì và hiện nay, tôi đã được hỗ trợ bởi gia đình, bạn bè và cộng đoàn rộng lớn hơn, những người không chỉ đáp ứng nhu cầu vật chất cơ bản của tôi mà còn cung cấp sự đồng hành, hỗ trợ sự trưởng thành trong đức tin và đưa ra những lời khuyên khôn ngoan. Là một người khuyết tật, tôi cũng cùng bước đi với những người khác để tìm cách mang lại một thế giới tốt đẹp hơn và công bằng hơn cho những người đang bị tổn thương, và thường bị loại ra khỏi các cuộc đàm luận của Giáo hội và thế giới. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của tôi, nhiều người khuyết tật tham gia theo những cách hạn chế hơn nhiều. Một số hoàn toàn bị loại trừ, trong khi những người khác bị hạn chế để tham gia như một cuộc sống thể chế hóa sẽ cho phép. Đúng là có những hình thức cộng đồng tham gia cách đặc thù vào đời sống Giáo hội (chẳng hạn như các cộng đoàn L’Arche, Faith and Light và nhiều giáo xứ dành cho người Điếc) nhưng những hình thức này thường chỉ giới hạn cho các thành viên của họ, và cơ hội để tương tác với Giáo hội rộng lớn hơn cũng như những cuộc đối thoại ảnh hưởng rộng hơn trong Giáo hội thường bị hạn chế. Có một nhu cầu rất lớn, đặc biệt là khi chúng ta chuẩn bị cho Thượng hội đồng về tính Hiệp hành, để Giáo hội đón nhận và làm cho lời tuyên bố trọng đại của Đức Thánh Cha Phanxicô trong Thông điệp Fratelli Tutti (FT) thành của mình, lời tuyên bố ấy được những người Công giáo khuyết tật hân hoan chào đón: Tôi muốn nhắc đến những “người lưu vong ẩn mặt” bị đối xử như bộ phận ngoại lai trong xã hội. Nhiều người khuyết tật “cảm thấy họ sống mà chẳng thuộc về ai và cũng chẳng được tham dự vào việc gì”. Còn nhiều người khác bị “ngăn cản không được có đầy đủ tư cách công dân”. Mối quan tâm của chúng ta không chỉ là chăm sóc họ mà còn bảo đảm cho họ được “tham gia tích cực vào cộng đồng dân sự và Giáo hội. Đó là hành trình vừa đòi hỏi lại vừa khó khăn, sẽ ngày càng góp phần vào việc đào tạo lương tâm biết nhìn nhận mỗi cá nhân là một con người duy nhất và không thể thay thế. (FT 98) Việc chào đón này bao gồm cả lý thuyết lẫn thực hành. Trong lãnh vực lý thuyết, nền thần học của chúng ta vẫn còn bị bại hoại bởi hai thái cực, một bên coi người khuyết tật như là một gánh nặng chưa được giải quyết của tội nguyên tổ, còn một bên coi người khuyết tật như là “những linh hồn tế thần”, “biểu tượng đặc quyền của Người Con bị đóng đinh”. Cả hai hình ảnh này đều không có bất kỳ một khoảng trống nào cho ân sủng - hoặc ngay cả cho phép Rửa. Xét cho cùng, phép Rửa có ích gì nếu nó không ảnh hưởng trên tội lỗi hay ân sủng? Mặc dù chúng tôi không phải là biểu tượng cũng chẳng phải là lời cảnh báo, nhưng điều đó không có nghĩa là khuyết tật không có gì để cống hiến cho thần học. Khuyết tật là một lời nhắc nhở rằng bản chất con người là giới hạn. Vâng, những người khuyết tật thiếu những năng lực mà người khác có, nhưng chẳng ai có đầy đủ các năng lực. Con người ai cũng có giới hạn. Chúng ta được sinh ra với một loạt các khả năng rất cụ thể. Mặc dù những khả năng này phát triển khi chúng ta trưởng thành, nhưng chúng cũng mất dần khi chúng ta già đi. Có giới hạn và ranh giới là một phần của tình trạng con người. Điều khó khăn là xã hội chỉ chấp nhận một số khuyết tật chứ không phải mọi khuyết tật. Bạn sẽ thường thấy các đường dốc cho phép đi vào viện dưỡng lão và nhà trẻ. Bạn sẽ không tìm thấy chúng thường xuyên bên ngoài thư viện, tòa nhà hội đồng, nhà thờ và tòa án. Chính việc thiếu phương thế tiếp cận này đã biến những sự khiếm khuyết (chẳng hạn như mù lòa hoặc bại liệt) thành khuyết tật (không có khả năng tiếp cận xã hội và đóng vai trò của chúng tôi trong đó). Những giới hạn về khả năng của con người như thế có nghĩa là sự cứu độ là một công trình chung. Chúng ta phụ thuộc vào nhau và vào Thiên Chúa. Hình ảnh của Thiên Chúa mà chúng ta được tạo thành theo đó không phải là một sự hoàn hảo tự tại phạm thượng nào đó làm cho chúng ta ngang hàng với Đấng dựng nên chúng ta, nhưng đúng hơn, đó là khả năng để tương quan với Thiên Chúa và người thân cận của chúng ta. Tất cả chúng ta, trong mọi thời đại, hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa và vào các anh chị em của mình. Như Thánh Phaolô đã nói trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô:   Thật vậy, thân thể gồm nhiều bộ phận, chứ không phải chỉ có một mà thôi. Giả như chân có nói: “Tôi không phải là tay, nên tôi không thuộc về thân thể”, thì cũng chẳng vì thế mà nó không thuộc về thân thể. Giả như tai có nói: “Tôi không phải là mắt, vậy tôi không thuộc về thân thể”, thì cũng chẳng vì thế mà nó không thuộc về thân thể. Giả như toàn thân chỉ là mắt, thì lấy gì mà nghe? Giả như toàn thân chỉ là tai, thì lấy gì mà ngửi? Nhưng Thiên Chúa đã đặt mỗi bộ phận vào một chỗ trong thân thể như ý Người muốn. Giả như tất cả chỉ là một thứ bộ phận, thì làm sao mà thành thân thể được? Như thế, bộ phận tuy nhiều mà thân thể chỉ có một. Vậy mắt không có thể bảo tay: “Tao không cần đến mày”; đầu cũng không thể bảo hai chân: “Tao không cần chúng mày”. Hơn nữa, những bộ phận xem ra yếu đuối nhất thì lại là cần thiết nhất; và những bộ phận ta coi là tầm thường nhất, thì ta lại tôn trọng hơn cả. Những bộ phận kém trang nhã, thì ta lại mặc cho chúng trang nhã hơn hết. Còn những bộ phận trang nhã thì không cần gì cả. Nhưng Thiên Chúa đã khéo xếp đặt các bộ phận trong thân thể, để bộ phận nào kém thì được tôn trọng nhiều hơn. Như thế, không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung. (1Cr 12, 14-26) Một Giáo hội nói lên và nội tâm hóa những sự thật này trong thần học của mình sẽ là một Giáo hội, mà mượn hình ảnh của Đức Thánh Cha Phanxicô, mang những người lưu vong trở về nhà. Tuy nhiên, với tư cách là Giáo hội, chúng tôi có vị trí đặc biệt để nói lên sự thật về tình trạng khuyết tật trong lãnh vực thực hành hàng ngày. Tôi nhận thấy rằng đời sống cộng đoàn nói riêng đã nuôi dưỡng ý thức tham gia và hiệp thông (mang tính bí tích). Cho dù đó là chia sẻ Thánh lễ, một lời cầu nguyện hay ăn tối, tôi đã được ban tặng món quà tuyệt vời của những người khác mà tôi cùng nhau bước đi trên đường (syn hodos). Với tư cách là linh mục, tôi cử hành các bí tích với người khác – chia sẻ niềm vui và nỗi buồn và bước vào thế giới của niềm vui và hy vọng (trong các Thánh lễ hoặc Bí tích rửa tội) và đồng hành với những người đau buồn (như khi bước đi với những người hấp hối hoặc những nạn nhân bị tra tấn trong các trung tâm giam giữ người nhập cư). Những giới hạn của tôi cũng đã mang lại cho tôi những nhận thức vô giá đối với công việc của tôi như là một linh mục. Một quan điểm phẩm trật, quá thường xuyên, tạo ra một mô hình nâng cao chức tư tế mà – ở mức tồi tệ nhất – đã dẫn đến sự ngạo mạn và lạm dụng. Là một linh mục khuyết tật, tôi nhận thức về bản chất con người giới hạn tôi chia sẻ với những người tôi phục vụ. Do đó, tôi có thể đứng cùng với những người khác, không phải với tư cách là một nhân vật có thẩm quyền – từ một vị trí có sức mạnh – mà đúng hơn, là từ một điểm lợi thế của sự yếu đuối chung. Mặc dù thế giới của sự liên đới khuyết tật vượt qua ranh giới đức tin và giáo xứ, nhưng đó vẫn là một cộng đoàn. Chúng tôi đã sống với sự phân biệt đối xử và gạt ra bên lề xã hội và chúng tôi có cơ hội để hỗ trợ lẫn nhau. Trong cộng đồng người khuyết tật, tất cả chúng tôi đều quen bù đắp cho những hạn chế của người khác và hỗ trợ lẫn nhau ngay cả khi các cơ chế hỗ trợ truyền thống – chẳng hạn như cơ chế hỗ trợ của gia đình và giáo xứ – bị phá vỡ. Theo tôi, sứ mạng của Giáo hội phải bao gồm sự hỗ trợ lẫn nhau này, không phải bằng việc nói cho mọi người biết mọi thứ đang diễn ra như thế nào, mà là học hỏi từ kinh nghiệm của những người khuyết tật và, đi theo cách mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã luôn chỉ ra, đặt những người bị gạt ra bên lề vào trung tâm của việc loan báo Tin Mừng. Xét cho cùng, chúng tôi là “chúng ta” chứ không phải “họ” và tất cả chúng ta đều là những người dự phần vào nhân loại dễ bị tổn thương và giới hạn mà Chúa Kitô đã mang lấy và thánh hóa. Sự hỗ trợ lẫn nhau nơi người khuyết tật đã được duy trì rất rõ nét trong thời kỳ Covid. Những người khuyết tật đã hỗ trợ, cung cấp thông tin và chăm sóc lẫn nhau trong khoảng thời gian đen tối này. Hiện thân sống động này của sứ điệp thánh Phaolô gửi cho tín hữu Côrintô có khả năng chỉ đường cho các giáo xứ, giáo phận và những người lãnh đạo Giáo hội quan sát và tuân theo trong lĩnh vực cura personalis (chăm sóc cá nhân) và tổ chức tập thể tốt hơn. Đây là một sự hoán cải, có thể và nên mở rộng ra mọi khía cạnh của đời sống và quản trị Giáo hội. Người khuyết tật có thể tham gia các phụng vụ của Giáo hội một cách bình đẳng. Chúng tôi có thể là thành viên của quản trị – từ giáo xứ đến giáo phận và từ tòa án đến bộ. Với khả năng ra quyết định được hỗ trợ, những người khuyết tật về trí tuệ cũng có thể đóng một vai trò có ý nghĩa trong các quyết định ảnh hưởng đến cuộc sống của họ, dù là trong Giáo hội hay rộng hơn là trong xã hội. Nếu chúng ta không phải là thành phần của một Giáo hội nói với chúng ta thì tiếng nói của chính Giáo hội sẽ không được lắng nghe đầy đủ. Người khuyết tật có thể và nên nắm giữ các chức vụ trong Giáo hội. Dần dần tiếng nói của các nhà thần học khuyết tật đã nổi lên. Những điều này cần được nuôi dưỡng và khuyến khích nhiều hơn nữa. Tôi tin rằng Thần Khí hiện đang tạo ra một cơ hội đáng hoan nghênh để thay đổi – một cơ hội đã được Đức Thánh Cha Phanxicô nắm bắt. Trong mỗi cuộc đời đều chứa đựng một thế giới. Do đó, 15% dân số bị khuyết tật mang đến sự đa sắc của những góc nhìn và câu chuyện đang chờ được lắng nghe. Chúng tôi có thể lao động trong tất cả các lĩnh vực của Giáo hội mà những người không bị coi là khuyết tật làm. Ngoài ra, chúng tôi mang đến những trải nghiệm cá nhân từ những khuyết tật của mình và sự hiểu biết về việc gạt ra bên lề và phân biệt đối xử. Chúng tôi có thể đánh thức Giáo hội để có những nhận thức mới về sự hạn chế và tiềm năng liên đới của Giáo hội. Như Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống đã chỉ ra, chúng ta cũng là Giáo hội. Vậy thì chúng ta hãy cùng nhau bước đi, không còn là chúng tôi và họ, những người lưu vong hay những công dân nhưng là một trong Chúa Giêsu Kitô. Nt. Anna Ngọc Diệp, Dòng Đa Minh Thánh TâmChuyển ngữ từ: laciviltacattolica.com (23.12.2022) Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 136 (Tháng 7 & 8 năm 2023)

Đọc lại Đối Thoại Và Rao Giảng ba mươi năm sau: Một quan điểm Trung Đông

ĐỌC LẠI ĐỐI THOẠI VÀ RAO GIẢNG BA MƯƠI NĂM SAU:MỘT QUAN ĐIỂM TRUNG ĐÔNG Pierbattista PizzaballaGiám mục, Giáo chủ nghi lễ Latinh, Giêrusalem WHĐ (09.12.2022) - Trong thế giới Trung Đông, người ta thực sự không ưa thuật ngữ “rao giảng”; nó gợi nhớ rất sâu đậm một thuật ngữ khác cũng bị ghét bỏ là “truyền giáo”, thuật ngữ này thậm chí còn mang nghĩa tiêu cực hơn. Nó nhắc người ta nhớ lại những cuộc cải đạo cưỡng bức của các thế kỷ xưa, sự áp đặt Kitô giáo tại một số phần của vùng Levantin [phía đông Địa Trung Hải], các cuộc Thập Tự Chinh, và bất cứ thứ gì khác mà chúng ta có thể thêm vào từ quá khứ đau buồn của chúng ta. Cho dù có thích hay không thích, cho dù có đúng hay sai, đây là cách hiểu về lịch sử của người Do Thái và người Hồi giáo, và từ “rao giảng” tất yếu chỉ về cách hiểu ấy. Chúng ta cũng phải lưu ý rằng trong các quốc gia khác nhau tại Trung Đông, nỗi đau thương của dân tộc họ thường được đặt ở trọng tâm căn tính và lịch sử dân tộc của họ, và Phương Tây bị coi là thủ phạm chính gây ra nỗi đau thương ấy. Tóm lại, từ các cuộc Thập Tự Chinh tới chủ nghĩa thuộc địa, sự hồi sinh và quyền tự quyết của dân tộc, căn tính dân tộc và tôn giáo của các quốc gia Trung Đông được xây dựng trên nhu cầu tự cứu chuộc khỏi sự thống trị và chiếm đóng của Phương Tây. Sau cùng, phải lưu ý rằng, mặc dù không chính xác, trong tư tưởng hằng ngày tại Trung Đông, vẫn còn tồn tại một sự đồng hóa khái niệm “Phương Tây” với “Kitô giáo”. Không phải là những người Kitô hữu tại Trung Đông đã không từng chịu đau khổ từ các cuộc thống trị khác nhau đã diễn ra qua thời gian; nhưng đây không phải chỗ để đi vào những cuộc điều tra lịch sử hay vạch ra những sai trái của bên này hay bên kia. Ở đây chúng ta muốn vạch rõ ra rằng, dù chúng ta có thích hay không, Kitô giáo tại Trung Đông phải đối diện với những thành kiến gắn liền với quá khứ xa và quá khứ gần. Vì lý do ấy, để tránh những sự hiểu lầm dễ dãi, chúng ta phải cẩn thận và tỉ mỉ trong việc sử dụng từ ngữ. Cùng một từ, sử dụng ở Phương Tây và Phương Đông, có những cách hiểu khác nhau. Trong bối cảnh này, Văn kiện “Đối Thoại và Rao Giảng” là một văn kiện can đảm và đúng lúc vì nó đề cập rõ ràng và không sợ hãi một đề tài rất tế nhị nhưng đồng thời không thể tránh né: mối quan hệ giữa đối thoại và rao giảng, và nó minh định đúng ý nghĩa mà Hội Thánh ngày nay hiểu về các thuật ngữ này, hệ quả của chúng trong đời sống Hội Thánh và mối quan hệ của Hội Thánh với thế giới, và nhất là với các trải nghiệm tôn giáo khác. Vì vậy, trong bối cảnh Trung Đông được đánh dấu bởi một lịch sử phức tạp, hai thực tại này hòa hợp với nhau như thế nào? Làm sao có thể vừa đối thoại vừa đồng thời rao giảng? Chẳng phải có vẻ là một sự mâu thuẫn trong con mắt những người đối thoại với chúng ta sao? Chẳng phải đối thoại có nguy cơ bị hiểu lầm như là một hình thức mơ hồ mà ẩn sau nó là mối cám dỗ thường xuyên muốn cải đạo người khác sao? Và đối với Hội Thánh, đối thoại mà không rao giảng thì có nghĩa gì không? Mục đích của đối thoại là gì? Trên thực tế, nếu chúng ta suy nghĩ kỹ về những điểm này, nếu chúng ta gột sạch được những thuật ngữ này khỏi cách hiểu xuyên tạc mà lịch sử đã cung cấp cho chúng ta, chúng ta sẽ thấy rằng trên thực tế – trong thực tại hiện hành của Hội Thánh – đối thoại và rao giảng, làm chứng và rao giảng đi chung với nhau, và đây là điều mà Văn kiện đã mô tả rất hay, và làm cho nó vẫn còn rất hợp thời hôm nay, cả trong vùng (Trung Đông) của chúng ta. Rao giảng cần cho đối thoại. Để có một cuộc đối thoại thân thiện, chân thành và thẳng thắn, điều cơ bản là có một sự ý thức rõ ràng về bản thân mình và về căn tính của mình. Và chỉ khi có một ý thức rõ ràng và xác định về căn tính của mình, chúng ta mới có thể đối diện với người đối thoại với mình, đối thoại trong tinh thần tự do và chấp nhận, không mặc cảm hay sợ hãi, nhưng thân thiện và chân thành. Nói tóm lại, đây là vấn đề không đồng hóa “đối thoại” và “rao giảng” với chủ trương cải đạo và thuyết phục. Có nghĩa là vấn đề không phải là chứng minh chân lý của mình hay thuyết phục người khác chấp nhận quan điểm của mình, nhưng chỉ là đơn thuần làm chứng bằng lời nói và nếp sống của mình, để cho thấy mình là ai và mình thuộc về ai. Đó là ý nghĩa của rao giảng hôm nay. Điều này được trải nghiệm thế nào tại Trung Đông hôm nay? Đương nhiên tôi không thể nói đại diện cho toàn thể thực tại rất đa dạng của Trung Đông. Tuy nhiên tôi có thể trình bày kinh nghiệm của giáo phận tôi đang phục vụ lúc này, dù sao nó cũng bao gồm đa phần tính phức tạp của vùng này. Đối thoại liên tôn tại Trung Đông Rất khác với Châu Âu, Trung Đông đã luôn luôn là một cái chảo lửa của những khác biệt tôn giáo. Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo đều có các trung tâm và gốc gác tại đây. Mỗi một tôn giáo trong số này đều từng có những chia rẽ và những phát triển rất năng động trong nội bộ của họ: Các phái Sunni, Shiai, Kitô hữu Chính Thống giáo, Cóp, Syriac, và nhiều cộng đồng khác đã phát sinh qua nhiều thế kỷ, làm cho Trung Đông trở thành một vùng có tình trạng cộng sinh độc nhất trên toàn thế giới, mặc dù không luôn luôn dễ dàng. Hơn nữa, các phân nhánh tôn giáo ngày nay cũng vẫn là những phân nhánh xã hội và văn hóa. Đức tin không chỉ là một trải nghiệm tôn giáo cá nhân nhưng cũng là sự xác định căn tính cá nhân và xã hội. Tôn giáo là yếu tố quyết định theo một nghĩa lịch sử, văn hóa và nhân văn. Hiếm khi tìm thấy dấu vết của các yếu tố thế tục giống như chúng ta thấy tại Phương Tây trong chủ nghĩa Hiện Đại, trong đó Nhà nước và Giáo hội được phân biệt rõ ràng và đức tin chỉ là một trong số những khía cạnh đặc trưng khác của thực tại xã hội. Tại Trung Đông, tôn giáo đi vào mọi lãnh vực của đời sống hằng ngày, công cộng và tư riêng, và thấm nhuần đời sống ấy một cách sâu đậm. Tư cách thành viên của một tôn giáo là một phần thiết yếu của căn tính cá nhân và dân sự của một người: mỗi người được xác định và được coi là người Kitô hữu, người Do Thái, hay người Hồi giáo bất kể họ có sống đạo hay không. Sau cùng, nhiều khía cạnh của đời sống quốc gia được uỷ thác cho các giới chức tôn giáo. Hôn nhân là một ví dụ điển hình: không có hôn nhân dân sự, hôn nhân luôn luôn là hôn nhân tôn giáo với nhiều hệ quả xã hội. Do đó, tư cách thành viên của một tôn giáo, ngoài việc xác định một cá nhân trong tương quan với bản thân cá nhân ấy, nó cũng xác định họ trong tương quan với người khác. Trải nghiệm tôn giáo và xã hội của một người cũng xác định tương quan của họ với những người khác, trên bình diện cá nhân và xã hội. Hai cư dân của Giêrusalem, dù có cùng quốc tịch, nhưng nếu thuộc hai tôn giáo khác nhau, thì họ sẽ có hai cách tiếp cận khác nhau đối với các vấn đề chung và sẽ phản ứng theo hai mẫu xã hội hoàn toàn khác nhau. Tóm lại, một người có thể là vô thần nhưng đồng thời vẫn là người Do Thái giáo, Kitô giáo hay Hồi giáo. Vì thế, trong bối cảnh này, đối thoại liên tôn tại Trung Đông bây giờ lại càng cần thiết hơn bao giờ. Ngày nay, củng cố và đào sâu đối thoại giữa các tín đồ của các niềm tin khác đã trở thành nhiệm vụ thiết yếu. Sự đối thoại này có thể ảnh hưởng sâu đậm tới chính trị, đặc biệt tại Trung Đông. Khi sự đối thoại này là nghiêm túc, nền chính trị là nơi thích hợp để tổng hợp các động năng tôn giáo và xã hội và biến chúng thành hành động cụ thể trên lãnh thổ mình, đây là nhiệm vụ cần thiết hơn bao giờ hôm nay, nhưng nó hiện không tồn tại. Đối thoại liên tôn xuất phát từ thực tế. Nó không phủ nhận các vấn đề và các nỗi sợ hãi lẫn nhau, nhưng nó không được phép để cho mình bị vùi dập bởi những vấn đề ấy. Nó bác bỏ mọi hình thức bạo lực; nó cố gắng bằng mọi giá tìm hiểu người khác mà không nhất thiết phải có chung quan điểm; nó không muốn thuyết phục hay cải đạo, nhưng tôn trọng và được tôn trọng. Nó không khẳng định cũng không giả định rằng tất cả chúng ta đều giống nhau. Không ai phủ nhận các căn tính tôn giáo và văn hóa khác nhau. Phủ nhận sự khác biệt là điển hình của những người theo chủ nghĩa cực đoan, muốn mọi người giống như mình. Đối thoại liên tôn không coi những khác biệt là mối đe dọa nhưng cố gắng tìm hiểu chúng. Tóm lại, theo tôi đối thoại liên tôn là cuộc gặp gỡ của các cộng đồng tôn giáo và các lãnh đạo của họ, bắt đầu ở cấp địa phương, để thảo luận về các vấn đề chung và cụ thể. Tại Trung Đông, không dễ để có các cuộc đối thoại về các vấn đề tôn giáo. Chúng ta chỉ có thể đến được với việc chia sẻ các trải nghiệm đức tin của chính mình sau khi đã thiết lập được mối quan hệ mạnh với sự tin cậy và tình bằng hữu ở bình diện con người. Chúng ta phải bắt đầu đối thoại với những người có niềm tin tôn giáo về những vấn đề chung, bắt đầu với vấn đề chung về con người. Nếu tư cách thành viên của một tôn giáo có chức năng quan trọng như thế trong các quốc gia này và là cơ sở cho các mối quan hệ hiểu biết lẫn nhau ở mọi bình diện, thì rõ ràng đối thoại tôn giáo đạt được một vai trò cơ bản, với những hệ luỵ cụ thể trực tiếp. Chẳng hạn, từ cuộc đối thoại (hay không đối thoại) giữa các tín đồ Hồi giáo và Kitô giáo tại Ai Cập, sẽ trực tiếp phát sinh (hay không phát sinh) một phản ứng trong các mối quan hệ và hệ thống pháp luật của các bên tương ứng. Nếu tôn giáo là một thành phần cơ bản của đời sống xã hội, nó cũng phải trở thành một thành phần cơ bản của giải pháp cho các sự mất cân đối. Chúng ta có thể coi đối thoại tôn giáo như là một cuộc hành hương, một lời mời gọi rời khỏi thế giới riêng của mình và những sự chắc chắn riêng của mình để gặp gỡ người khác và trải nghiệm đức tin của họ, tìm kiếm sự tăng trưởng nhân bản và thiêng liêng của mỗi người. Tại Trung Đông, đối thoại là một sự “kích thích” trong việc thực thi trách nhiệm lịch sử và xã hội. Do đó, nó có giá trị chiến lược và thực tiễn để kiến tạo một sợi dây tin tưởng và trung thành, một “giao ước mới của những niềm hy vọng”, nhắm mục tiêu cùng nhau đạt được mọi thứ mà cá nhân không thể đạt được. Ngày nay cam kết đối thoại chạm đến những biên giới mới. Nó cũng phải xử lý những vấn đề ngày càng nhiều và cấp bách, như những vấn đề liên quan đến các thành tựu khoa học và kỹ thuật, bảo vệ sự thánh thiêng và phẩm giá của đời sống con người, khẳng định công lý, hòa bình, tự do, bảo vệ các quyền con người, giữ gìn thiên nhiên, là các vấn đề chất chứa những hệ luỵ rất phức tạp. Trong khi lưu ý đến bối cảnh xã hội, chính trị và tôn giáo phức tạp của Trung Đông, những thay đổi thời đại đang diễn ra, sự thay đổi cán cân quyền lực chính trị và tôn giáo, và những cuộc khủng hoảng trong những năm gần đây, chúng ta có thể nói rằng đối thoại liên tôn phải có những tiêu chí và những mô hình chuyên biệt. Chúng có thể được tóm lược vào những điểm sau đây: a) Phục hồi tầm quan trọng ngôn sứ và giáo dục của trải nghiệm tôn giáo. Không thể coi nó trước hết và trên hết như là một trải nghiệm. Nói khác đi, các nhà lãnh đạo tôn giáo có nhiệm vụ giúp đỡ các cộng đoàn liên hệ của họ tái khám phá những yếu tố nền tảng đức tin của họ,vốn thường bị hoen ố bởi những yếu tố ngoại lai với nó và đã tích tụ qua nhiều thế kỷ. Tương tự, trong bối cảnh này, (các lãnh đạo tôn giáo) cần giáo dục các cộng đồng của mình từ từ, cả bằng những cử chỉ nhấn mạnh, để cùng nhau dấn thân phát triển xã hội, nhờ đó góp phần phá vỡ những thành kiến và những khuôn sáo cũ. Theo hướng này, cuộc gặp gỡ của Đức giáo hoàng Phanxicô với vị lãnh tụ Hồi giáo của Al-Azhar tại Abu Dhabi vào tháng 2 năm 2019 có tầm quan trọng đặc biệt, là một cột mốc trong mối quan hệ không bao giờ dễ dàng giữa Hội Thánh Công giáo và thế giới Hồi giáo dòng Sunni. Cũng quan trọng việc cùng nhau làm việc để xét lại các bản văn giáo dục tôn giáo của mỗi bên, thường vẫn nặng những ngôn từ thù nghịch với việc đối thoại và gặp gỡ với các tôn giáo khác. b) Quan hệ giữa tôn giáo và chính trị phải được xét lại. Dù có thể là một công việc khó khăn và mệt nhọc, phải tránh khai thác những trải nghiệm tôn giáo khác nhau. Ít người ngày nay tin rằng đây là điều khả thi, nhưng có những tiếng nói đang được gióng lên thường xuyên hơn theo hướng này, ngay cả trong thế giới Hồi giáo. Đối thoại liên tôn, gặp gỡ với các tôn giáo khác, đây là một công cụ thiết yếu để nuôi dưỡng sự ý thức chậm chạp nhưng kiên trì này. c) Một suy tư về các khái niệm về căn tính cá nhân và văn hóa xã hội và tính thuộc về văn hóa và tôn giáo: ngày nay, những khái niệm này có một cách hiểu phức tạp, đa nghĩa, và năng động. Không còn có thể đóng khung tư cách căn tính trong các khuôn mẫu văn hóa của các cộng đồng tôn giáo như trong quá khứ nữa. Các Kitô hữu nói tiếng Ả Rập tại Israel, chẳng hạn, bị xâu xé giữa việc họ thuộc về Nhà nước Israel, vốn được định nghĩa là “Nhà nước Do Thái”, tư cách họ thuộc về căn tính Palestin, và đức tin Kitô giáo của họ. Tư cách thuộc về này thì phức tạp, không thể được đơn giản hóa  – một trường hợp tương tự đối với các Kitô hữu ở Ai Cập, Syria, Libăng, Irắc, v.v… Những vụ biểu tình khác nhau mà chúng ta đã thấy trong những tháng gần đây trên khắp Trung Đông, không chỉ ở Libăng, chính là đang đi theo hướng này. Những người trẻ của các đất nước tương ứng, nơi họ không còn thấy chỗ đứng của mình, đang muốn thay đổi các mô hình xã hội hiện hành. Và điều đáng buồn là các giới chức tôn giáo không hỗ trợ đủ cho đòi hỏi ngày càng cấp bách này. d) Trong một nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến chiều kích phổ quát của việc sống chung, thúc đẩy người ta hoạt động cho sự cởi mở, hòa bình, bất bạo động, hợp tác và những cuộc gặp gỡ xây dựng giữa những con người khác nhau. Đối thoại liên tôn không thể được diễn tả hết trong việc đọc (lại) lịch sử của một người và trong mối quan hệ phức tạp mà các tôn giáo liên quan đã có giữa họ trong quá khứ. Điều đó đã được thực hiện rộng rãi rồi. Ngày nay là lúc để các lãnh đạo tôn giáo, cách riêng, dấn thân và thúc đẩy sự dấn thân cho trách nhiệm chung vì công lý và hòa bình, vốn bị tổn thương sâu xa tại Trung Đông bởi nhiều năm chiến tranh giáo phái và những bi kịch đáng xấu hổ. Đối thoại liên tôn mà không xem xét sự dấn thân chung, hỗ tương, cụ thể và trách nhiệm hữu hiệu đối với xã hội mà mỗi người thuộc về, thì sự đối thoại ấy sẽ vẫn chỉ là chữ chết, đóng kín mình trong những cuộc hội họp tự đề cao bản thân, hoàn toàn không cần thiết. e) Xem xét lại các nguyên tắc mở rộng và lệ thuộc lẫn nhau, không chỉ liên quan đến các chủ đề, các giá trị, các dân tộc, các Nhà nước, nhưng cũng liên quan đến cách tiếp cận các vấn đề của thời đại chúng ta, chúng vượt ra ngoài ranh giới của các Nhà nước (ví dụ việc sử dụng các phương tiện truyền thông hay các mạng xã hội). Trước hết, chính giới trẻ là những người đang ngày càng giáp mặt với những đòi hỏi mà chủ nghĩa hiện đại đã đưa vào đời sống xã hội với nền kỹ thuật mới mẻ, làm thay đổi mô hình các mối tương quan cá nhân và xã hội, đạo đức, và khái niệm về gia đình. Cả ở Trung Đông, đối thoại liên tôn phải lưu ý rằng văn hóa địa phương sẽ ngày càng chịu ảnh hưởng bởi những động năng và những giá trị chung cho phần còn lại của thế giới. f) Một sự xét lại các phạm trù về lịch sử, ký ức, tội lỗi, công lý, tha thứ, là những điều đặt lãnh vực tôn giáo liên hệ trực tiếp với lãnh vực đạo đức, xã hội và chính trị của người dân. Đây là một nhân tố quyết định. Chúng ta không thể khắc phục được những chướng ngại của hôm nay; chúng ta sẽ không thể thực sự lập kế hoạch cho một tương lai hòa bình trừ khi chúng ta có can đảm thanh tẩy cách hiểu lịch sử của mình khỏi những gánh nặng ghê gớm của những đau thương và bất công vẫn đang ảnh hưởng nặng nề đến hiện tại và những chọn lựa thường được làm hôm nay. Đương nhiên vấn đề không phải là quên chúng đi. Nhưng sẽ là rất thách thức để xây dựng một tương lai hòa bình nếu chúng ta vẫn cứ đặt tình trạng “là nạn nhân” làm cơ sở của căn tính xã hội và quốc gia của mình, thay vì phải đặt các quan điểm của mình trên cơ sở của một niềm hy vọng chung. Từ đó nảy sinh các câu hỏi sau đây: Suy nghĩ lại lịch sử và ký ức thế nào? Làm thế nào để có thể nói về sự tha thứ nếu cái hiện tại của tôi đang ngập tràn những bất công và đau thương? Chính ở điểm quyết định này mà đối thoại liên tôn ở Trung Đông không thể không đối mặt với nhau và đem phần đóng góp không thể thay thế của mình đến cho phần còn lại của thế giới. Đây là một sự đối mặt ngày càng cần thiết và là cách duy nhất có thể giúp mỗi cộng đồng tôn giáo của chúng ta ra khỏi ngõ cụt mà chúng ta đang gặp hôm nay. Rao giảng Tại Trung Đông, không thể có việc rao giảng trực tiếp, hiểu theo nghĩa là một hoạt động công khai truyền bá và cổ vũ đức tin Kitô giáo bên ngoài các môi trường sống của người Kitô hữu. Trong một số khu vực ngoài Kitô giáo, thậm chí người ta cũng được khuyến cáo không đeo ảnh thánh giá, để tránh những hiểu nhầm và thành kiến. Thậm chí trong các sinh hoạt chung, đặc biệt khi có các tín hữu Kitô giáo và Hồi giáo ở chung với nhau, như ở các trường học và đại học, người ta cũng phải cẩn thận không tạo ấn tượng là mình đang có những hoạt động cải đạo, cả khi thậm chí không có một chút ý hướng gián tiếp nào từ phía Hội Thánh. Mục đích của Hội Thánh tại Trung Đông không phải là để cải đạo người khác. Nói tóm là các nỗi sợ hãi và ngờ vực theo bản năng vẫn luôn luôn hiện hữu. Vì vậy, người ta tránh sử dụng một số từ ngữ. Ngay cả từ “Phúc âm hoá” (“evangelization”) cũng được sử dụng rất dè dặt, không phải vì nó không phải là trọng tâm của đời sống Hội Thánh, nhưng chính là để tránh hiểu nhầm. Tuy nhiên, Văn kiện (D&P) đã cắt nghĩa rất rõ rằng đây không phải là nghĩa của từ “rao giảng” (“proclamation”). Với từ rao giảng, chúng ta hiểu là bằng cuộc sống và việc làm, chúng ta làm chứng rằng mình là ai và mình thuộc về Ai. Và đây là điều hoàn toàn có thể. Vì vậy, trong một số bối cảnh, có lẽ không nên đeo ảnh thánh giá vì có thể gây hiểu lầm, nhưng không ai ngăn cản chúng ta làm chứng về ý nghĩa của thánh giá, nghĩa là bằng một cuộc sống tích cực và say mê cổ vũ cho sự tha thứ và hòa giải. Nếu chúng ta không thể cổ vũ cho Kitô giáo trong các hoạt động giáo dục của chúng ta, chúng ta vẫn luôn có thể tự do sống và làm chứng về lối sống của mình, đó đã là một sự rao giảng rồi, một sự rao giảng vui tươi, tự nhiên. Tóm lại, các cơ sở giáo dục và xã hội khá nhiều của chúng ta chính là yếu tố tác động như một trục xoay cho việc đối thoại và gặp gỡ với những người khác-với-chúng-ta. Trước hết, các cơ sở như thế – các trường học, đại học, bệnh viện, nhà dưỡng lão, trung tâm cho người khuyết tật, v.v… – chính là nơi mà chúng ta gặp gỡ các anh chị em Do Thái và Hồi giáo của chúng ta, và ở đó các hoạt động đối thoại, gặp gỡ và làm chứng mang những hình thức cụ thể, gắn liền với những khuôn mặt, những con người, những trải nghiệm sống và chia sẻ. Đồng thời trong cùng những cơ sở này, chúng ta cũng trải nghiệm đức tin đẹp đẽ, tự nhiên và say mê của các tín đồ Do Thái và Hồi giáo, những người cũng muốn chia sẻ đức tin của họ một cách tự do và bình thản trong những việc làm và những trải nghiệm cởi mở. Đó là sự đối thoại đẹp nhất, được Văn kiện (D&P) gọi là “đối thoại cuộc sống”, nó đồng thời cũng trở thành một lời rao giảng, và là một sự rao giảng vui tươi tự nhiên của mỗi người, về đức tin của chính họ. Trong các hình thức và các cộng đồng tương ứng của nó, nó cũng là một sự loan báo và rao giảng chung về một đức tin duy nhất. Kết luận, với rất nhiều những khủng hoảng của nó, Trung Đông hôm nay có vẻ như là biểu tượng cho sự thất bại trong đối thoại, biểu tượng cho cuộc xung đột giữa các nền văn minh và văn hóa. Nhưng thật ra không phải như vậy. Trên bình diện thể chế, các vấn đề có tính khách quan. Nhưng trên bình diện đời sống của các công dân bình thường, có đạo hay không có đạo, vẫn có nhiều người và nhiều hiệp hội bất chấp mọi sự, cố gắng cùng nhau chứng tỏ một cách sống khác tại đất nước của họ, qua những sáng kiến chung hay chỉ qua các mối quan hệ đơn thuần của tình bằng hữu, là những cách thức vượt ra ngoài những ranh giới cứng nhắc của căn tính và tôn giáo. Đây không phải lúc để có những cử chỉ to tát; không phải lúc để chờ đợi các cơ chế tôn giáo và chính trị có khả năng nhìn thấy và nói tiên tri. Sớm hay muộn thì các cơ chế cũng sẽ đến, nhưng trong khi chờ đợi, chúng ta phải hoạt động và làm việc ở những nơi mà người dân đang muốn tham gia, qua những sáng kiến đối thoại và gặp gỡ, cầu nguyện và chia sẻ. Chúng ta không cần phải khái quát hóa sự việc, đương nhiên rồi. Chúng ta không thể phủ nhận khuynh hướng đa cực hóa và chia rẽ hiện nay, nhưng chúng ta cũng nhận ra những nguồn ánh sáng đang soi chiếu môi trường của chúng ta. Một chút ánh sáng đủ để xua tan bóng tối. Và niềm hy vọng của chúng ta hôm nay vẫn là dựa trên điều này. Chuyển ngữ: Lm Đaminh Ngô Quang TuyênTừ: Tập san Pro Dialogo số 167 (LVI) 01/2021 của Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại Liên tôn, link tại dimmid.org Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 136 (Tháng 7 & 8 năm 2023)

Bài diễn văn của Đức Thánh Cha Phanxicô tại Hội nghị COP28, 02.12.2023

WHĐ (03.12.2023) – Vì lý do sức khỏe, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã hủy chuyến đi Dubai nhân Hội nghị Thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc về Khí hậu (COP28) nên Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Toà thánh, đã đại diện Đức Thánh Cha tham dự Hội nghị này. Trong khuôn khổ Hội nghị được diễn ra từ ngày 30.11 đến ngày 12.12.2023, sáng ngày 02.12, Đức Hồng Y Pietro Parolin đã tuyên đọc bài diễn văn của Đức Thánh Cha trước khoảng 140 nguyên thủ quốc gia và chính phủ tham dự Hội nghị. Sau đây là nội dung bài diễn văn của Đức Thánh Cha: BÀI DIỄN VĂN CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔTẠI HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA LIÊN HIỆP QUỐC (COP 28) Expo City, DubaiThứ Bảy, ngày 2 tháng 12 năm 2023 Tôi hân hạnh được đọc bài diễn văn mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã chuẩn bị cho dịp này: Thưa ngài Chủ tịch,Thưa ngài Tổng thư ký Liên hiệp quốc,Thưa quý Nguyên thủ quốc gia và Chính phủ,Thưa quý vị,   Tôi rất lấy làm tiếc khi không thể hiện diện cùng với quý vị như tôi mong muốn. Dù vậy, tôi vẫn hiện diện bên quý vị, vì đây là thời gian rất cấp bách. Tôi hiện diện bên quý vị vì hơn bao giờ hết, tương lai của tất cả chúng ta phụ thuộc vào hiện tại mà chúng ta lựa chọn. Tôi hiện diện bên quý vị vì sự hủy hoại môi trường là một sự xúc phạm đến Thiên Chúa, một tội không chỉ mang tính cá nhân mà còn mang tính cơ cấu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn nhân loại, đặc biệt là những người dễ bị tổn thương nhất, và có nguy cơ gây ra xung đột giữa các thế hệ. Tôi hiện diện bên quý vị vì biến đổi khí hậu là “một vấn đề xã hội toàn cầu có liên hệ mật thiết đến phẩm giá sự sống con người” (Tông huấn Laudate Deum, 3). Tôi hiện diện bên quý vị để nêu lên một câu hỏi mà chúng ta được mời gọi để trả lời ngay bây giờ: Chúng ta đang làm việc cho một nền văn hóa sự sống hay sự chết? Tôi khẩn thiết xin quý vị: Chúng ta hãy chọn sự sống! Chúng ta hãy chọn tương lai! Chúng ta hãy lắng nghe tiếng rên rỉ của trái đất, chúng ta hãy chú ý đến tiếng kêu than của người nghèo, chúng ta hãy nhạy cảm trước những hy vọng của người trẻ và ước mơ của trẻ em! Chúng ta có một trách nhiệm nặng nề: đảm bảo rằng tương lai của họ không bị phủ nhận. Rõ ràng là sự biến đổi khí hậu hiện nay là kết quả của hiện tượng nóng lên toàn cầu, nguyên nhân chủ yếu là do sự gia tăng lượng khí nhà kính trong khí quyển do hoạt động của con người gây ra, mà trong những thập niên gần đây đã được minh chứng là không bền vững đối với hệ sinh thái. Tham vọng sản xuất và chiếm hữu đã trở thành nỗi ám ảnh, dẫn đến lòng tham vô đáy, khiến môi trường trở thành đối tượng bị khai thác vô độ. Khí hậu bị xáo trộn là lời cảnh báo để chúng ta chấm dứt ảo tưởng về sức mạnh vô hạn này. Chúng ta phải một lần nữa nhận thức về những giới hạn của mình với sự khiêm tốn và can đảm như là lộ trình duy nhất để có một cuộc sống viên mãn đích thực. Điều gì đang cản trở lộ trình này? Sự chia rẽ hiện đang tồn tại giữa chúng ta. Nhưng một thế giới hoàn toàn được kết nối, giống như thế giới hiện nay, không thể bị ngắt khỏi những người cai trị nó, với các cuộc đàm phán quốc tế “không đạt được bước tiến đáng kể do lập trường của các quốc gia ưu tiên lợi ích quốc gia của họ lên công ích mang tính toàn cầu” (Thông điệp Laudato si', 169). Chúng ta phải đối diện với những quan điểm cứng nhắc, và thậm chí thiếu linh hoạt, có xu hướng bảo vệ doanh thu của cá nhân và của công ty, đôi khi tự biện minh cho mình dựa trên những gì người khác đã làm trong quá khứ với hành vi trốn tránh trách nhiệm nhiều lần. Tuy nhiên, nhiệm vụ mà chúng ta được mời gọi thực hiện hôm nay không phải là quay trở lại quá khứ mà là hướng tới tương lai: một tương lai, mà dù muốn hay không, sẽ thuộc về mọi người hoặc không thuộc về ai cả. Điều đặc biệt đáng lưu ý là những nỗ lực nhằm đổ lỗi cho người nghèo hoặc cho tỷ lệ sinh sản cao. Đây là những điều giả dối cần phải kiên quyết loại bỏ. Đó không phải lỗi của người nghèo, bởi vì gần một nửa thế giới nghèo khó hơn chỉ chịu trách nhiệm cho khoảng 10% lượng khí thải gây ô nhiễm, trong khi khoảng cách giữa số ít người giàu và đại đa số người nghèo chưa bao giờ thăm thẳm đến thế. Trên thực tế, người nghèo là nạn nhân của những gì đang xảy ra: chúng ta hãy nghĩ đến hoàn cảnh khó khăn của những người dân bản địa, nạn phá rừng, thảm kịch của nạn đói, tình trạng lương thực và nước không an toàn, và dòng di cư cưỡng bức. Việc sinh sản không phải là một vấn đề, mà là một nguồn lực: chúng không chống lại sự sống mà ủng hộ sự sống, trong khi một số mô hình ý thức hệ và chủ nghĩa vị lợi hiện đang áp đặt lên các gia đình và dân cư, bằng một chiến lược vừa đập vừa xoa, là sự thuộc địa hóa thực sự. Sự phát triển của nhiều quốc gia, vốn đã quá tải với các khoản nợ kinh tế nặng nề không thể bị trừng phạt; trái lại, chúng ta cần xem xét tác động của một số quốc gia phải chịu trách nhiệm về “món nợ sinh thái” đáng lo ngại sâu sắc đối với nhiều quốc gia khác (x. Laudato si', 51-52). Sẽ là điều đúng đắn nếu tìm ra những phương thế thích hợp để xóa bỏ các khoản nợ kinh tế đang đè nặng lên nhiều dân tộc, nhất là đối với khoản nợ sinh thái mà họ đang mắc phải. Thưa quý vị, cho phép tôi ngỏ lời với quý vị, với tư cách là anh chị em với nhau, nhân danh ngôi nhà chung nơi chúng ta đang sống, để hỏi câu hỏi này: Đâu là lối thoát khỏi tình trạng này? Đó chính là lộ trình mà quý vị đang theo đuổi trong những ngày này: con đường của sự đoàn kết, sự đa phương. Thật vậy, “thế giới đang trở nên đa cực và đồng thời phức tạp đến mức cần phải có một khuôn khổ khác để hợp tác hiệu quả. Chỉ nghĩ đến sự cân bằng quyền lực thôi thì chưa đủ… Vấn đề là thiết lập các quy tắc mang tính toàn cầu và hiệu quả” (Laudate Deum, 42). Theo nghĩa này, điều đáng lo ngại là hiện tượng nóng lên toàn cầu đi kèm với sự nguội lạnh chung của chủ nghĩa đa phương, sự mất lòng tin ngày càng tăng đối với cộng đồng quốc tế, và sự đánh mất “nhận thức chung về việc trở thành… một gia đình của các quốc gia” (Saint John Paul II, Diễn văn tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc nhân kỷ niệm 50 năm thành lập, New York, ngày mồng 05.10.1995, 14). Điều cần thiết là phải khôi phục lòng tin, vốn là nền tảng của chủ nghĩa đa phương. Điều này áp dụng cho cả việc chăm sóc thụ tạo lẫn việc bảo vệ hòa bình. Đây là những vấn đề cấp bách nhất và chúng liên kết chặt chẽ với nhau. Nhân loại đang lãng phí biết bao năng lượng vào vô số những cuộc chiến tranh đang diễn ra, chẳng hạn như ở Israel và Palestine, ở Ukraine và ở nhiều nơi khác trên thế giới: xung đột sẽ không giải quyết được vấn đề mà còn làm chúng thêm trầm trọng hơn! Biết bao tài nguyên đang bị lãng phí vào các loại vũ khí hủy diệt sự sống và hủy hoại ngôi nhà chung! Một lần nữa, tôi xin đưa ra đề xuất: “Với nguồn tài chính đổ vào vũ khí và các chi tiêu quân sự khác, chúng ta hãy thành lập một ngân quỹ toàn cầu để dứt khoát xóa bỏ nạn đói” (Thông điệp Fratelli Tutti, 262; x. Thánh Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio, 51) và thực hiện các hoạt động thúc đẩy sự phát triển bền vững của các quốc gia nghèo hơn, và để chống biến đổi khí hậu. Trách nhiệm của thế hệ này là phải lưu tâm đến tiếng kêu của người dân, người trẻ và trẻ em, đồng thời đặt nền móng cho một chủ nghĩa đa phương mới. Tại sao không bắt đầu ngay từ ngôi nhà chung? Biến đổi khí hậu báo hiệu sự cần thiết phải thay đổi chính sách. Chúng ta hãy thoát ra khỏi lối mòn của tư lợi và chủ nghĩa dân tộc; vốn là những khuôn mẫu thuộc về quá khứ. Chúng ta hãy cùng nhau đón nhận một tầm nhìn thay thế: điều này sẽ giúp mang lại một cuộc hoán cải mang tính sinh thái, bởi vì “không có sự thay đổi lâu dài nếu không có sự thay đổi về văn hóa” (Laudate Deum, 70). Về điều này, tôi đảm bảo với quý vị về sự dấn thân và hỗ trợ của Giáo hội Công giáo, đặc biệt góp phần tích cực trong việc giáo dục và nâng cao nhận thức về sự tham gia của tất cả mọi người, cũng như trong việc cổ vũ những lối sống lành mạnh, vì tất cả mọi người đều có trách nhiệm và sự đóng góp của mỗi người là cơ bản. Thưa anh chị em, điều thiết yếu là phải có một bước đột phá, tất nhiên không phải là một sự thay đổi cục bộ, mà là một cách thức mới để cùng nhau tiến về phía trước. Nếu lộ trình chiến đấu chống biến đổi khí hậu được bắt đầu ở Rio de Janeiro vào năm 1992, và Thỏa thuận Paris năm 2015 đánh dấu “một sự khởi đầu mới” (Laudate Deum, 47) thì giờ đây việc khởi động lại lộ trình này là điều cấp thiết. Chớ gì COP này là một bước ngoặt thể hiện ý chí chính trị rõ ràng và hữu hình, dẫn đến sự tăng tốc mang tính quyết định của tiến trình chuyển đổi sinh thái, thông qua các biện pháp đáp ứng 3 yêu cầu: chúng phải “hiệu quả, bắt buộc, và dễ giám sát” (Laudate Deum, 59). Và chúng được thực hiện trong 4 lĩnh vực: sử dụng năng lượng hiệu quả; nguồn tái tạo; loại bỏ nhiên liệu hóa thạch; và giáo dục lối sống ít phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Chúng ta hãy tiến về phía trước và đừng lùi bước. Ai cũng biết rằng nhiều thỏa thuận và cam kết được cho là “có mức độ thực hiện kém, vì thiếu cơ chế phù hợp để giám sát, xem xét định kỳ và xử phạt thích hợp trong những trường hợp vi phạm” (Laudato si’, 167). Bây giờ là lúc không trì hoãn được nữa mà là thực hiện chứ không chỉ nói về phúc lợi của con cái, công dân, đất nước của quý vị, và thế giới của chúng ta. Quý vị có trách nhiệm kiến ​​tạo những chính sách có thể đưa ra những câu trả lời cụ thể và mạch lạc, từ đó thể hiện sự cao quý trong vai trò mà quý vị đảm nhiệm, và phẩm chất của dịch vụ mà quý vị thực hiện. Bởi vì, mục đích của quyền lực là để phục vụ. Sẽ chẳng ích gì nếu duy trì một quyền bính mà một ngày nào đó sẽ chỉ được ghi nhớ vì không có khả năng can thiệp khi cần thiết và cấp bách (x. Laudato si’, 57). Lịch sử sẽ nhớ ơn quý vị vì điều đó. Cũng giống như những xã hội mà quý vị đang sống, trong đó có sự chia rẽ đáng tiếc thành “các phe hâm mộ”, giữa những ngôn sứ về sự diệt vong và những người ngoài cuộc thờ ơ, giữa những nhà bảo vệ môi trường triệt để, và những người phủ nhận biến đổi khí hậu… Việc đứng về phe nào cũng vô ích; trong trường hợp này, cũng như trong vấn đề hòa bình, điều này không dẫn đến bất kỳ giải pháp khắc phục nào. Chính sách tốt mới là giải pháp: nếu một tấm gương cụ thể và gắn kết xuất phát từ cấp trên, thì điều này sẽ mang lại lợi ích cho cấp cơ sở, nơi mà nhiều người, đặc biệt là người trẻ, đã tận tâm chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta. Ước mong rằng năm 2024 sẽ đánh dấu bước đột phá này. Tôi thích nghĩ đến một sự việc xảy ra vào năm 1224 là một dấu hiệu tốt lành. Vào năm đó, Thánh Phanxicô Assisi đã sáng tác “Bài ca các thụ tạo”. Lúc ấy Thánh Phanxicô đã bị mù hoàn toàn, và sau một đêm đau đớn về thể xác, tinh thần của ngài đã được an ủi nhờ một trải nghiệm thần bí. Sau đó, ngài muốn ca ngợi Đấng Tối Cao vì những thụ tạo mà ngài không còn nhìn thấy nữa, nhưng ngài biết rằng chúng là anh chị em của mình, vì chúng xuất phát từ cùng một Cha và được chia sẻ cho tất cả mọi người, nam cũng như nữ. Do đó, cảm thức huynh đệ đầy cảm hứng này đã khiến ngài biến nỗi đau thành lời ngợi khen, và sự mệt mỏi thành sự dấn thân đổi mới. Ngay sau đó, Thánh nhân thêm một khổ thơ khác trong đó ngài ca ngợi Thiên Chúa vì những ai tha thứ; và ngài đã làm như vậy để giải quyết – một cách thành công – một cuộc xung đột không đáng có giữa chính quyền dân sự và giám mục địa phương. Cùng mang danh hiệu Phanxicô, và với sự chân thành của một lời khẩn nguyện, tôi muốn lưu lại nơi quý vị sứ điệp này: Chúng ta hãy gạt bỏ những chia rẽ và hãy hợp lực với nhau! Và với sự trợ giúp của Thiên Chúa, chúng ta hãy thoát ra khỏi đêm tối của chiến tranh và sự tàn phá môi trường để biến tương lai chung của chúng ta thành bình minh của một ngày mới tươi sáng. Xin cảm ơn. Nt. Anna Ngọc Diệp, OPDòng Đa Minh Thánh TâmChuyển ngữ từ: vatican.va (02. 12. 2023)

5 Tháng Tám, 2023
ĐĂNG KÝ NHẬN TIN